Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp đã ký ban hành Quyết định số 4815/QĐ-BNNMT ngày 14/11/2025 về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên Lưu vực sông Cửu Long mùa cạn năm 2025-2026.
Kịch bản nguồn nước trên Lưu vực sông Cửu Long mùa cạn năm 2025-2026 được công bố nhằm mục tiêu phục vụ công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân.
Cùng với đó, làm căn cứ để các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước và các tổ chức, cá nhân quản lý vận hành công trình khai thác, sử dụng nước xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với Kịch bản nguồn nước theo quy định tại khoản 1, khoản 5 và khoản 6 Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023 và khoản 2 Điều 43 và khoản 2, 3, 4 và khoản 5 Điều 45 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP.
Kịch bản nguồn nước (KBNN) trên lưu vực sông Cửu Long mùa cạn năm 2025-2026 được xây dựng trên cơ sở quy định tại Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023; Nghị quyết số 141/2024/QH15 ngày 29 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV; Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước; Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 20501 và Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; hiện trạng nguồn nước, hiện trạng tích trữ nước trong các hồ chứa trên lưu vực sông Mê Công, nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước; nhận định xu thế diễn biến lượng mưa, lượng dòng chảy, diễn biến triều, mực nước trong các tầng chứa nước và thông tin, số liệu do Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước lớn, quan trọng trên lưu vực sông Cửu Long cung cấp.
Phạm vi xây dựng Kịch bản nguồn nước được thực hiện trên cơ sở phân vùng theo Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Kỳ công bố Kịch bản nguồn nước được tính toán, đánh giá trong mùa cạn 2025-2026 (từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026).
Nguồn nước thượng nguồn khả quan, mưa trái mùa góp phần cải thiện nguồn nước cục bộ
Trên cơ sở hiện trạng nguồn nước, cùng các dự báo về khí tượng, thủy văn và nhu cầu khai thác trên toàn lưu vực, cơ quan chuyên môn đã đưa ra nhận định tổng hợp về khả năng đáp ứng nguồn nước sông Cửu Long trong mùa cạn 2025-2026, đồng thời làm rõ các nguy cơ có thể phát sinh để phục vụ điều hành và đảm bảo an ninh nguồn nước, an ninh lương thực.
Về nguồn nước thượng nguồn, theo kịch bản, dòng chảy từ Biển Hồ dự báo tiếp tục là nguồn bổ sung quan trọng cho hạ lưu trong giai đoạn từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026. Tổng lượng nước đạt khoảng 47 tỷ m³, cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ 2024-2025 từ 20-21%. Tại trạm Kratie, lượng dòng chảy cũng được dự báo đạt 100-112 tỷ m³, cao hơn từ 10-25%. Các tín hiệu tích cực này cho thấy nguồn nước đầu vào cho ĐBSCL mùa cạn 2025-2026 nhìn chung thuận lợi hơn năm trước.
Trong khu vực ĐBSCL, tổng lượng nước về qua Tân Châu và Châu Đốc ước đạt 150-170 tỷ m³, tăng 10-25% so với trung bình nhiều năm. Bên cạnh đó, khả năng xuất hiện mưa trái mùa trong giai đoạn khô hạn sẽ góp phần cải thiện nguồn nước cục bộ cho vùng sản xuất và sinh hoạt.
Về nguồn nước dưới đất, dự báo từ tháng 11/2025 đến tháng 5/2026 cơ bản ổn định và đủ đáp ứng nhu cầu cấp nước. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng có sự khác nhau giữa các khu vực. Tại các tỉnh ven biển từ Vĩnh Long đến Cà Mau, một số công trình khai thác nước dưới đất có mực nước động dự báo gần ngưỡng giới hạn 35 m, như các trạm cấp nước ở Bạc Liêu và một số phường nội đô. Dù vẫn duy trì được tổng lưu lượng khai thác khoảng 33.900 m³/ngày đêm, các công trình này cần được theo dõi, giám sát chặt chẽ. Các giếng còn lại có mực nước động từ 25-30 m, đảm bảo duy trì hơn 43.900 m³/ngày đêm.
Tại Cần Thơ, Đồng Tháp và Tây Ninh, một số công trình cũng có mực nước động tiệm cận ngưỡng cho phép, như Nhà máy nước Bình Ảnh, Tân An hay cơ sở khai thác của doanh nghiệp thủy sản. Tổng lưu lượng duy trì khoảng 18.200 m³/ngày đêm. Phần lớn các công trình còn lại vẫn đảm bảo khai thác ổn định.
Xâm nhập mặn giảm nhưng vẫn là rủi ro lớn tại khu vực ven biển
Về xâm nhập mặn, mức độ được dự báo nhẹ hơn mùa cạn 2024-2025 nhờ hệ thống công trình kiểm soát mặn hoạt động hiệu quả hơn. Ở Tây Ninh, mặn có thể lấn sâu tới Tầm Vu, Vĩnh Công, Tân Trụ theo sông Vàm Cỏ Tây và tới Bình Đức, Bến Lức theo sông Vàm Cỏ Đông. Tại Đồng Tháp, mặn có thể lên đến Mỹ Phong (sông Cửu Tiểu) và Mỹ Tho (sông Cửa Đại). Riêng Vĩnh Long, do hệ thống kiểm soát mặn chưa hoàn chỉnh, mặn có thể lấn sâu vào các xã ven sông Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu. Cần Thơ được bảo vệ tương đối tốt nhờ tuyến cống Cái Lớn - Cái Bé. An Giang tiếp tục được che chắn bởi hệ thống công trình ven biển Tây, trong khi Cà Mau vẫn chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn theo sông Ông Đốc và Gành Hào.
Tổng hợp các yếu tố thượng nguồn, nguồn nước mặt, nước dưới đất và xâm nhập mặn cho thấy nguồn nước mùa cạn 2025-2026 trên lưu vực sông Cửu Long được đánh giá ở trạng thái “bình thường”, cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu cấp nước sinh hoạt, an sinh xã hội, sản xuất kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra tại một số xã cuối nguồn thuộc Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cà Mau, chủ yếu do ảnh hưởng xâm nhập mặn và hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ.
Yêu cầu các địa phương lập kế hoạch sử dụng nước theo kịch bản
Nhằm giảm nguy cơ thiếu nước cục bộ và phòng chống xâm nhập mặn, đồng thời ưu tiên đảm bảo cấp nước sinh hoạt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất một số giải pháp trọng tâm cho lưu vực sông Cửu Long.
Trước hết, Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao, chỉ đạo việc chủ động lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo nhu cầu sử dụng nước bình thường của từng ngành, lĩnh vực và địa phương, kế hoạch lập trên nguyên tắc tiết kiệm nước, tránh thất thoát, lãng phí, dự phòng nguy cơ xảy ra thiếu nước trong các tháng cao điểm xâm nhập mặn; nâng cao khả năng đảm bảo nguồn nước cho các địa phương trên lưu vực.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên lưu vực sông Cửu Long cần cập nhật kịp thời các thông tin dự báo khí tượng thủy văn để có các biện pháp chủ động phòng chống xâm nhập mặn do tình hình xâm nhập mặn trên lưu vực sông Cửu Long phụ thuộc vào nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Công, triều cường, mưa trái mùa và các biến động bất thường về thời tiết.
Chỉ đạo rà soát, cải tạo hệ thống thủy lợi nhằm nâng cao khả năng lấy nước, tích trữ nước, đồng thời bảo đảm lưu thông của dòng chảy, không gây ứ đọng, ô nhiễm nguồn nước trong các hệ thống sông, kênh; rà soát, điều chỉnh việc vận hành hệ thống thủy lợi phù hợp với nhu cầu khai thác, sử dụng nước, diễn biến xâm nhập mặn.
Khẩn trương lập, điều chỉnh, công bố Danh mục: hồ, ao, đầm, phá không được san lấp; nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ trên địa bàn các tỉnh, thành phố 21; vùng cấm, hạn chế khai thác nước dưới đất.
Các cơ quan Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phối hợp triển khai các kịch bản nguồn nước, điều hòa phân phối nước khi thiếu hụt diện rộng và báo cáo định kỳ hiện trạng nguồn nước, cụ thể:
Cục Quản lý tài nguyên nước chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ tính toán, cập nhật và trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc cập nhật Kịch bản nguồn nước trong trường hợp xảy ra diễn biến bất thường về khí tượng, thủy văn hoặc phát sinh các yêu cầu đối với nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực; định kỳ hằng tháng trong mùa cạn năm 2025-2026 báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hiện trạng nguồn nước, đánh giá trạng thái nguồn nước và tình hình triển khai kịch bản nguồn nước đã công bố.
Cùng với đó, Cục Quản lý tài nguyên nướcchủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, cập nhật và tổ chức thực hiện phương án điều hoà, phân phối tài nguyên nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước xảy ra trên diện rộng trên lưu vực sông. Đồng thời, triển khai các hoạt động điều hòa, phân phối tài nguyên nước tương ứng với trạng thái nguồn nước và mức độ chuyển trạng thái nguồn nước.
Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi hướng dẫn các địa phương rà soát nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hướng tăng hiệu quả lấy nước của các công trình, hệ thống công trình thủy lợi; hướng dẫn các địa phương rà soát nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hướng tăng hiệu quả lấy nước của các công trình, hệ thống công trình thủy lợi. Về lâu dài, chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan để rà soát, xây dựng, sửa đổi quy trình vận hành của các hệ thống công trình thủy lợi đảm bảo điều tiết nguồn nước liên vùng, liên tỉnh.
Các Cục: Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi và Thú y theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện hướng dẫn điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi và nuôi trồng thủy sản theo kịch bản nguồn nước, đồng thời theo dõi, dự báo, cảnh báo khu vực nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn.
Đối với các vùng có nguy cơ thiếu nước cục bộ, các tỉnh như Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cà Mau cần xây dựng kế hoạch ứng phó theo từng mức thiếu hụt, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, kết hợp khai thác nước mặt, nước dưới đất và nước mưa, tăng cường tích trữ nước, đồng thời đầu tư xây dựng các công trình điều tiết, trữ nước, đặc biệt tại vùng khan hiếm nước và đồng bào dân tộc thiểu số.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, địa phương cần tổ chức khai thác hợp lý, hướng dẫn gieo trồng theo khuyến cáo chuyên môn và vận hành công trình thủy lợi linh hoạt theo diễn biến nguồn nước. Bộ Xây dựng và UBND các tỉnh phối hợp nâng cấp nhà máy nước, mở rộng mạng lưới cấp nước, áp dụng công nghệ xử lý nước mặn-lợ và tái sử dụng nước thải để đảm bảo an ninh nước sinh hoạt.
Đối với nước dưới đất, các tỉnh cần khẩn trương rà soát, công bố danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn các tỉnh, thành phố Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Cà Mau theo quy định; xây dựng, phê duyệt Kế hoạch bảo vệ nước dưới đất trên địa bàn các tỉnh, thành phố; Chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp với đơn vị vận hành công trình khai thác nước dưới đất tập trung để cấp nước cho sinh hoạt xây dựng phương án khai thác nước phù hợp.
Những giải pháp này nếu được triển khai đồng bộ, sẽ bảo đảm an ninh nguồn nước, hạn chế thiếu nước cục bộ, phòng chống xâm nhập mặn và duy trì nguồn nước ổn định, an toàn cho sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế trên lưu vực sông Cửu Long.