Sign In

Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026: Bảo đảm an ninh nước cho sinh hoạt và sản xuất

09:08 23/01/2026

Chọn cỡ chữ A a   chia sẻ facebook   chia sẻ zalo   chia sẻ zalo    

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 243/QĐ-BNNMT công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026, làm cơ sở điều hòa, phân phối và quản lý tài nguyên nước trên toàn lưu vực. Kịch bản nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

 

Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng


Việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026 nhằm phục vụ công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân.


Đồng thời, Kịch bản là căn cứ để các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước; các tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành công trình khai thác, sử dụng nước xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp theo quy định tại các khoản 1, 5, 6 Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023 và khoản 2 Điều 43, các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 45 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP.


Kịch bản được xây dựng và công bố theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Kỳ công bố được tính toán, đánh giá cho mùa cạn năm 2026, từ tháng 01 đến hết tháng 7/2026, áp dụng trên toàn bộ các tiểu lưu vực thuộc lưu vực sông Srêpốk.

 

Nhu cầu nước cho sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ


Theo Kịch bản được công bố, trong mùa cạn năm 2026, trên toàn lưu vực sông Srêpốk hiện có 188 công trình cấp nước tập trung, trong đó gồm 51 công trình khai thác nước mặt và 137 công trình khai thác nước dưới đất. Tổng lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động kinh doanh – dịch vụ ước đạt khoảng 10,7 triệu m³ trong toàn kỳ mùa cạn.


Tỷ lệ khai thác từ nước dưới đất chiếm khoảng 76%, trong khi khai thác từ nước mặt chiếm 24%, phản ánh mức độ phụ thuộc tương đối lớn của nhiều khu vực trên lưu vực vào nguồn nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng nông thôn, vùng cao, vùng chưa được đầu tư đồng bộ hệ thống cấp nước tập trung.


Bên cạnh các công trình tập trung, trên lưu vực còn tồn tại nhiều công trình cấp nước tự chảy, giếng khoan hộ gia đình và các điểm khai thác nhỏ lẻ, phân tán, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất quy mô nhỏ. Hệ thống này góp phần đa dạng hóa nguồn cung, song cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý, giám sát để hạn chế nguy cơ suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước, nhất là đối với các tầng chứa nước dưới đất.

 


Nông nghiệp tiếp tục là ngành sử dụng nước lớn nhất


Kịch bản xác định, nông nghiệp là lĩnh vực sử dụng nước lớn nhất trên lưu vực sông Srêpốk, với tổng nhu cầu nước trong mùa cạn năm 2026 ước đạt khoảng 1.419 triệu m³.


Trong tổng nhu cầu này, hệ thống các công trình thủy lợi hiện có cung cấp khoảng 485 triệu m³, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu tưới cho lúa, 41% cho cây hàng năm khác và 17% cho cây lâu năm. Phần diện tích còn lại, đặc biệt là các vùng trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, cao su, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nước mưa, các công trình khai thác nước dưới đất và các công trình nước mặt nhỏ lẻ.


Thực tế này cho thấy sản xuất nông nghiệp trên lưu vực vẫn chịu tác động lớn từ diễn biến thời tiết, khả năng tích trữ và điều tiết nước của hệ thống hồ chứa, công trình thủy lợi, nhất là trong điều kiện mùa khô kéo dài và lượng mưa phân bố không đều.


Nhu cầu nước cho phát điện và vai trò của các hồ chứa lớn


Trên lưu vực sông Srêpốk hiện có nhiều công trình thủy điện quan trọng, vận hành theo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk.


Theo Kịch bản, trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 7/2026, sản lượng điện dự kiến của các nhà máy thủy điện thuộc quy trình liên hồ đạt khoảng 1,22 triệu kWh, thấp hơn khoảng 31% so với năm 2025 và thấp hơn khoảng 19% so với mức trung bình nhiều năm. Tương ứng, nhu cầu nước phục vụ phát điện ước đạt khoảng 16,1 tỷ m³, giảm 14,4% so với năm 2025 và giảm 3,5% so với trung bình thời kỳ.


Riêng hồ Buôn Tua Srah, trong mùa cạn năm 2026, sản lượng điện dự kiến đạt khoảng 145,3 triệu kWh, với nhu cầu nước khoảng 1,3 tỷ m³, giảm 13,3% so với năm 2025 và giảm 7,9% so với trung bình nhiều năm.


Các số liệu trên cho thấy áp lực phát điện trong mùa cạn năm 2026 có xu hướng giảm so với những năm trước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác điều tiết, phân phối nước phục vụ các mục tiêu cấp nước cho hạ du, sản xuất nông nghiệp và duy trì dòng chảy môi trường.


Trạng thái nguồn nước: Cơ bản ở “trạng thái bình thường”


Trên cơ sở tổng hợp các thông tin về hiện trạng nguồn nước, dự báo khí tượng – thủy văn, diễn biến dòng chảy đến các hồ chứa lớn, tình hình nguồn nước mặt và nước dưới đất tại các tiểu vùng, Kịch bản nhận định nguồn nước trên toàn lưu vực sông Srêpốk trong mùa cạn năm 2026 cơ bản ở “trạng thái bình thường”.


Đối với bốn hồ chứa lớn gồm Buôn Tua Srah, Krông Búk Hạ, Srêpốk 3 và Srêpốk 4, dự báo cho thấy tổng lượng nước đến hồ trong mùa cạn năm 2026 có khả năng đáp ứng yêu cầu cấp nước cho phát điện, tưới tiêu nông nghiệp tại địa phương và duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ.


Cụ thể, tại hồ Buôn Tua Srah và Krông Búk Hạ, trong cả hai kịch bản vận hành (sản lượng phát điện thấp hơn năm 2025 hoặc tương đương trung bình nhiều năm), nhu cầu nước cho phát điện và tưới tiêu đều được đánh giá là phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn nước đến hồ.


Đối với hồ Srêpốk 3 và Srêpốk 4, sản lượng điện và nhu cầu nước cho phát điện dự kiến thấp hơn trung bình nhiều năm, trong khi dòng chảy đến hồ có xu hướng cao hơn khoảng 10–15%, tạo dư địa nhất định cho việc điều tiết nước phục vụ hạ du.


Nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số tiểu vùng


Mặc dù tổng thể nguồn nước được đánh giá ở trạng thái bình thường, Kịch bản cũng chỉ rõ, do đặc điểm địa hình dốc, mạng lưới sông suối nhỏ, khả năng trữ nước hạn chế, cùng với đặc trưng mùa khô kéo dài, lượng mưa thấp và bốc hơi lớn, nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra tại một số khu vực, đặc biệt là các vùng ngoài phạm vi cấp nước của hồ chứa, các khu vực có công trình thủy lợi quy mô nhỏ, chưa được đầu tư đồng bộ.


Tiểu vùng Ia Đrăng và Ia Lốp: Có khoảng 15 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích khoảng 216,9 triệu m³. Đến đầu tháng 01/2026, phần lớn các hồ đã tích gần đầy và cơ bản đáp ứng nhu cầu trong phạm vi cấp nước. Tuy nhiên, hồ Ia Ring gặp sự cố thấm thân đập từ cuối năm 2024, chỉ tích được khoảng 57% dung tích, tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước tưới tại một số xã thuộc tỉnh Gia Lai.


Tiểu vùng Thượng và Hạ Ea Hleo: Khoảng 97 hồ chứa, tổng dung tích hơn 223 triệu m³, nguồn nước trong phạm vi cấp nước của các hồ được đánh giá là bảo đảm. Tuy nhiên, các khu vực ngoài hệ thống vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ, đặc biệt trong các tháng cao điểm nắng nóng.


Tiểu vùng Thượng và Hạ Krông Ana: Hệ thống 365 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 140 triệu m³ cơ bản đáp ứng nhu cầu, song các khu vực phụ thuộc nhiều vào nước mưa và công trình nhỏ lẻ vẫn có khả năng xảy ra thiếu nước trong mùa khô.


Tiểu vùng Thượng và Hạ Krông Nô: Khoảng 110 hồ chứa với tổng dung tích hơn 74 triệu m³ cơ bản đủ khả năng cấp nước trong phạm vi, nhưng các xã vùng cao, vùng xa trung tâm vẫn tiềm ẩn rủi ro thiếu nước sinh hoạt và sản xuất.


Tiểu vùng Thượng và Hạ Srêpốk: Hệ thống gần 200 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 174 triệu m³ nhìn chung bảo đảm nguồn nước, song một số khu vực đô thị và nông thôn vẫn có nguy cơ thiếu nước cục bộ do nằm ngoài phạm vi cấp nước của các công trình thủy lợi.


Định hướng giải pháp và phân công nhiệm vụ


Về tổng thể, nguồn nước trên các tiểu vùng và các tầng chứa nước cơ bản ở trạng thái bình thường, lượng nước có thể khai thác bảo đảm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, an sinh xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong các tháng cao điểm nắng nóng (từ tháng 3 đến tháng 5), nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể gia tăng nếu việc khai thác, sử dụng không hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.


Để giảm thiểu rủi ro thiếu nước trong mùa cạn năm 2026, đặc biệt trong các tháng dự báo xảy ra nắng nóng diện rộng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các bộ, ngành và địa phương trên lưu vực sông Srêpốk chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu.


Bộ Công Thương được giao chỉ đạo việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch vận hành các hồ chứa thủy điện phù hợp với điều kiện nguồn nước, bảo đảm ưu tiên cấp nước cho hạ du đến cuối mùa cạn, đồng thời cân đối hài hòa giữa mục tiêu phát điện và cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất.


Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng tiếp tục rà soát, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi, mở rộng phạm vi cấp nước, cải thiện năng lực tích trữ và điều tiết nước, đồng thời tăng cường giám sát việc khai thác nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng trồng cây công nghiệp.


Kịch bản cũng khuyến nghị phát triển các mô hình tích trữ nước mưa, ao hồ nhỏ, công trình trữ nước quy mô hộ gia đình, ứng dụng các giải pháp tưới tiên tiến, chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các khu vực thường xuyên hạn hán nhằm giảm áp lực lên nguồn nước.


Cục Quản lý tài nguyên nước chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ tính toán, cập nhật và trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc cập nhật KBNN trong trường hợp xảy ra diễn biến bất thường về khí tượng, thủy văn hoặc phát sinh các yêu cầu đối với nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng. Định kỳ hằng tháng trong mùa cạn năm 2026, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hiện trạng nguồn nước, đánh giá trạng thái nguồn nước và tình hình triển khai KBNN đã công bố.


Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, cập nhật và tổ chức thực hiện phương án điều hoà, phân phối tài nguyên nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước xảy ra trên diện rộng trên lưu vực sông. Đồng thời, triển khai các hoạt động điều hòa, phân phối tài nguyên nước tương ứng với trạng thái nguồn nước và mức độ chuyển trạng thái nguồn nước.


Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương rà soát, nâng cao năng lực hệ thống các hồ chứa thủy lợi, lập, điều chỉnh các quy trình vận hành công trình, hệ thống công trình thủy lợi bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu và bảo đảm lưu thông dòng chảy, không gây ứ đọng, ô nhiễm nguồn nước.


Các Cục: Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi và Thú y theo chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi phù hợp với KBNN; Hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chủ động điều chỉnh lịch thời vụ cho các địa phương trên các LVS, nhất là các vùng, khu vực được cảnh báo có nguy cơ thiếu nước.


Cục Khí tượng thủy văn theo dõi, cập nhật bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; tăng cường dự báo, cảnh báo cho các khu vực, vùng có nguy cơ xảy ra thiếu nước đã được nhận định trong KBNN.


Văn phòng Thường trực Uỷ ban sông Mê Công Việt Nam phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan để cung cấp, thông báo kịp thời các thông tin về vận hành, xả nước của hồ Srêpôk 4 cho phía Campuchia theo quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Srêpốk.


Tăng cường bảo vệ và phục hồi nước dưới đất


Đối với công tác bảo vệ nước dưới đất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương khẩn trương rà soát, phê duyệt và triển khai kế hoạch bảo vệ theo quy định pháp luật; cập nhật danh mục các vùng hạn chế khai thác; khoanh định, đánh giá các khu vực có tiềm năng bổ cập nhân tạo; nghiên cứu, áp dụng các mô hình bổ sung nhân tạo nhằm phục hồi các tầng chứa nước, nhất là tại các khu vực phụ thuộc lớn vào nguồn nước dưới đất.


Việc khai thác nước dưới đất cần được giám sát chặt chẽ, hạn chế tình trạng khai thác quá mức, sử dụng giếng khoan nhỏ lẻ không bảo đảm kỹ thuật, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm và suy thoái nguồn nước.

File đính kèm:

DWRM

Nội dung trong tệp đính kèm

Ý Kiến

Ban hành Danh mục lưu vực sông liên quốc gia và lưu vực sông liên tỉnh

Ban hành Danh mục lưu vực sông liên quốc gia và lưu vực sông liên tỉnh

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký Quyết định số 205/QĐ-TTg ban hành Danh mục lưu vực sông liên quốc gia và Danh mục lưu vực sông liên tỉnh.

Bảo đảm an ninh nguồn nước trên lưu vực sông Sê San theo Kịch bản mùa cạn 2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 242/QĐ-BNNMT về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Sê San mùa cạn năm 2026.

Lưu vực sông Hương mùa cạn 2026: Trạng thái nguồn nước “bình thường”, không chủ quan với nguy cơ thiếu nước cục bộ

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 241/QĐ-BNNMT về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hương mùa cạn năm 2026.