Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 242/QĐ-BNNMT về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Sê San mùa cạn năm 2026.
Việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông sông Sê San mùa cạn năm 2026 nhằm phục vụ công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân.
Đồng thời, làm căn cứ để các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước và các tổ chức, cá nhân quản lý vận hành công trình khai thác, sử dụng nước xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với Kịch bản nguồn nước theo quy định tại các khoản 1, 5, 6 Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023 và khoản 2 Điều 43 và các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 45 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP.
Phạm vi xây dựng KBNN trên toàn bộ lưu vực sông Sê San thuộc lãnh thổ Việt Nam, được phân chia thành 06 tiểu vùng, gồm: Thượng Đắk Bla, Hạ Đắk Bla, Thượng Sê San, Trung Sê San, Hạ Sê San, Sa Thầy.
Kịch bản nguồn nước được xây dựng và công bố theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Kỳ công bố Kịch bản nguồn nước trong mùa cạn năm 2026 (từ tháng 01/2026 đến hết tháng 6/2026).
Dự báo xu thế khí tượng – thủy văn trong mùa cạn 2026
Theo KBNN được công bố, hiện tượng ENSO trong giai đoạn đầu năm 2026 được dự báo đang ở trạng thái La Nina, sau đó có khả năng chuyển dần và duy trì điều kiện trung tính với xác suất từ 60–75%. Khả năng tiếp tục duy trì trạng thái La Nina ở mức từ 35 - 40% trong giai đoạn tháng 01 - 3/2026 và giảm xuống dưới 15% trong giai đoạn tháng 4 - 6/2026.
Nắng nóng trên khu vực lưu vực sông Sê San có thể xuất hiện cục bộ từ cuối tháng 3 và tháng 4/2026, sau đó gia tăng về cường độ và tần suất trong các tháng 5–6/2026. Nhiệt độ trung bình trong mùa cạn năm 2026 được dự báo phổ biến xấp xỉ so với trung bình nhiều năm (TBNN) cùng thời kỳ.
Về lượng mưa, tổng lượng mưa trên toàn lưu vực từ tháng 01–6/2026 được dự báo cao hơn TBNN từ 5–20%, trong đó các tháng đầu năm có thể xuất hiện các đợt mưa trái mùa, góp phần bổ sung nguồn nước mặt và nước dưới đất cho lưu vực.
Đối với dòng chảy, tổng lượng dòng chảy trên sông Pô Kô (hồ PleiKrông) có xu thế cao hơn trung bình thời kỳ khoảng 18%. Trên sông Sê San (hồ Ialy), tổng lượng dòng chảy dự báo cao hơn trung bình khoảng 19%, trong khi tại hồ Sê San 4 ở mức tương đương trung bình. Riêng trên sông Đắk Bla, tổng lượng dòng chảy có xu thế thấp hơn trung bình thời kỳ khoảng 30%, tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt nguồn nước cục bộ tại một số khu vực phụ thuộc lớn vào dòng chảy tự nhiên.
Hiện trạng và xu thế nguồn nước dưới đất
Kết quả dự báo mực nước trong các tầng chứa nước (TCN) dưới đất trên lưu vực sông Sê San trong giai đoạn từ tháng 01- 6/2026 cho thấy xu thế dâng nhẹ so với cùng kỳ năm 2025.
Cụ thể, đối với TCN lỗ hổng (q), mực nước dự báo dao động trong khoảng từ 2,6 -10,8 m. Đối với TCN bazan lỗ hổng (βqp và Bn2qp), mực nước dự báo trong khoảng từ 2,2 - 20,1 m. Kết quả này cho thấy nguồn nước dưới đất trên lưu vực cơ bản có khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác hiện tại, song mức độ đáp ứng có sự khác biệt giữa các khu vực, phụ thuộc vào khả năng bổ cập tự nhiên, cường độ khai thác và đặc điểm địa chất thủy văn từng tiểu vùng.
Nhu cầu nước cho sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ
Tổng nhu cầu nước cấp cho sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động kinh doanh - dịch vụ trên lưu vực sông Sê San trong giai đoạn từ tháng 01–6/2026 ước đạt khoảng 21,8 triệu m³, tương đương 120.400 m³/ngày đêm. Trong đó, khoảng 17,1 triệu m³ được cung cấp thông qua các công trình khai thác nước tập trung (chiếm 94.600 m³/ngày đêm), phần còn lại khoảng 4,7 triệu m³ đến từ các công trình nhỏ lẻ, phân tán.
Các công trình cấp nước tập trung khai thác chủ yếu từ nguồn nước mặt (82%), trong khi nước dưới đất chiếm khoảng 18%. Bên cạnh đó, trên lưu vực còn tồn tại nhiều công trình cấp nước tự chảy, giếng khoan hộ gia đình và giếng khai thác nông thôn phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất quy mô nhỏ, góp phần đa dạng hóa nguồn cung nhưng cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý, giám sát để tránh suy thoái nguồn nước.
Nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp tiếp tục là ngành sử dụng nước lớn nhất trên lưu vực sông Sê San. Tổng nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp trong mùa cạn năm 2026 ước đạt khoảng 425,6 triệu m³. Trong đó, hệ thống các công trình thủy lợi cung cấp khoảng 209 triệu m³, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu tưới cho lúa, 21% cho cây hàng năm khác và 17% cho cây lâu năm.
Đối với diện tích trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, nguồn nước chủ yếu đến từ nước mưa, các công trình khai thác nước dưới đất và các công trình nước mặt nhỏ lẻ. Điều này phản ánh sự phụ thuộc lớn của sản xuất nông nghiệp vào điều kiện khí tượng – thủy văn và khả năng tích trữ, điều tiết nước của hệ thống công trình thủy lợi trên lưu vực.
Nhu cầu nước cho thủy điện
Trên lưu vực sông Sê San hiện có khoảng 51 nhà máy thủy điện với tổng công suất lắp máy đạt 2.555 MW. Trong đó, 08 nhà máy thủy điện lớn chiếm tới 85,7% tổng công suất, đồng thời sử dụng khoảng 70,6% tổng nhu cầu nước cho phát điện trên lưu vực.
Theo kế hoạch, tổng nhu cầu nước phục vụ sản xuất thủy điện của 08 nhà máy lớn trong giai đoạn từ tháng 01–6/2026 ước đạt 18,95 tỷ m³, tương đương sản lượng điện khoảng 3.630 triệu kWh. Mức này cao hơn khoảng 9,78% so với trung bình giai đoạn 2015–2025 và cao hơn 3,39% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy áp lực ngày càng gia tăng đối với công tác điều hành, phân phối nước giữa mục tiêu phát điện và nhu cầu cấp nước cho hạ du.
Nhận định trạng thái nguồn nước
Trên cơ sở tổng hợp hiện trạng, dự báo khí tượng – thủy văn, diễn biến nguồn nước tại các hồ chứa quan trọng, nguồn nước mặt và nước dưới đất, KBNN nhận định nguồn nước trên toàn lưu vực sông Sê San trong mùa cạn năm 2026 cơ bản ở “trạng thái bình thường”.
Tuy nhiên, kịch bản cũng nhấn mạnh, nếu gia tăng phát điện vượt mức trung bình, đặc biệt tại các hồ Ialy, PleiKrông và Sê San 4, vẫn có nguy cơ xảy ra thiếu hụt nguồn nước, ảnh hưởng đến an ninh năng lượng và nhu cầu sử dụng nước ở hạ du. Do đó, việc vận hành các hồ chứa cần tuân thủ chặt chẽ quy trình liên hồ, đồng thời linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến thực tế của nguồn nước.
Tiểu vùng Thượng Đắk Bla có 5 hồ chứa thủy lợi, đều có dung tích dưới 1 triệu m³. Trong các tháng 4–5/2026, nguy cơ thiếu nước có thể xuất hiện tại một số xã thuộc tỉnh Gia Lai và Quảng Ngãi do nắng nóng, lượng mưa giảm. Nguồn nước dưới đất tại đây có tiềm năng hạn chế, song có thể khai thác quy mô nhỏ để bổ sung cho sinh hoạt và sản xuất.
Tiểu vùng Hạ Đắk Bla hiện có 24 hồ chứa, trong đó 9 hồ có dung tích trên 1 triệu m³ và đã tích gần đầy. Tuy nhiên, các khu vực ngoài phạm vi cấp nước của hồ chứa vẫn có nguy cơ thiếu nước trong cao điểm mùa khô, đặc biệt tại một số xã thuộc Gia Lai và Quảng Ngãi.
Tiểu vùng Thượng Sê San và Trung Sê San nhìn chung nguồn nước trong các hồ chứa cơ bản đáp ứng nhu cầu, song vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ tại các khu vực chưa có công trình thủy lợi hoặc nằm ngoài phạm vi cấp nước, nhất là trong các tháng nắng nóng cao điểm.
Tiểu vùng Hạ Sê San có hệ thống hồ chứa tương đối phát triển, nhưng hồ Biển Hồ B được xác định là điểm cần đặc biệt lưu ý do nhiều năm mực nước vận hành ở ngưỡng hạn chế cấp nước trong giai đoạn cuối tháng 3 đến tháng 5.
Tiểu vùng Sa Thầy có 7 hồ chứa thủy lợi đều có dung tích dưới 1 triệu m3. Hiện trạng nguồn nước trong các hồ chứa thủy lợi cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của vùng, tuy nhiên một số vùng vẫn có nguy cơ thiếu nước trong tháng 5/2026 do thiếu hụt lượng mưa như: xã Ya Ly và xã Sa Thầy thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Định hướng giải pháp và kiến nghị
Về tổng thể nguồn nước trên các tiểu vùng, các tầng chứa nước cơ bản ở Trạng thái bình thường, lượng nước có thể khai thác đảm bảo đủ cho các nhu cầu sinh hoạt, an sinh xã hội; đảm bảo đầy đủ lượng nước cho các ngành kinh tế, bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, nguồn nước trên lưu vực trong kỳ công bố kịch bản vẫn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra thiếu nước cục bộ tại một số vùng nếu không khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, đặc biệt trong các tháng dự báo xảy ra nắng nóng diện rộng (từ tháng 3 đến tháng 5/2026), thiếu hụt lượng mưa, lượng nước về các hồ chứa thiếu hụt so với TBTK hoặc gia tăng nhu cầu nước cho phát điện và một số vùng có số lượng công trình cấp nước, công trình thủy lợi còn thiếu, quy mô nhỏ, chưa được đầu tư hoàn chỉnh hoặc xuống cấp.
Để giảm thiểu rủi ro thiếu nước, đặc biệt trong các đợt nắng nóng diện rộng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các bộ, ngành và địa phương trên lưu vực sông Sê San chủ động xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả và đa mục tiêu.
Bộ Công Thương được giao chỉ đạo việc vận hành các hồ chứa thủy điện phù hợp với điều kiện nguồn nước, bảo đảm cấp nước cho hạ du đến cuối mùa cạn. Các địa phương như Gia Lai và Quảng Ngãi cần rà soát, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi, mở rộng phạm vi cấp nước, giảm thất thoát trong mạng lưới cấp nước sinh hoạt, đồng thời tăng cường giám sát việc khai thác nước dưới đất, đặc biệt tại các vùng trồng cây công nghiệp.
Bên cạnh đó, kịch bản khuyến nghị phát triển các mô hình tích trữ nước mưa, ao hồ nhỏ, công trình trữ nước quy mô hộ gia đình, ứng dụng các giải pháp tưới tiên tiến, chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các khu vực thường xuyên hạn hán, thiếu nước nhằm giảm áp lực lên nguồn nước.
Cục Quản lý tài nguyên nước được giao chủ trì theo dõi, cập nhật và báo cáo định kỳ tình hình nguồn nước, kịp thời đề xuất điều chỉnh KBNN trong trường hợp có diễn biến bất thường về khí tượng – thủy văn.
Các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong công tác dự báo, điều hành, bảo vệ và phục hồi nguồn nước, hướng tới mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng trên lưu vực sông Sê San trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.
Về bảo vệ nước dưới đất trên lưu vực sông Sê San mùa cạn năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến nghị, cần khẩn trương rà soát, phê duyệt và triển khai kế hoạch bảo vệ nước dưới đất theo quy định của pháp luật, trong đó tập trung thực hiện: (i) rà soát, cập nhật danh mục các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn các tỉnh theo đúng quy định hiện hành; (ii) rà soát, xem xét đưa ra khỏi Danh mục vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất đối với các khu vực, các tầng chứa nước có mực nước dưới đất đã phục hồi theo quy định, nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sinh hoạt và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động khai thác nước dưới đất; (iii) rà soát, khoanh định và đánh giá các khu vực có nhu cầu và tiềm năng bổ sung nhân tạo nước dưới đất; trên cơ sở đó nghiên cứu, xem xét triển khai áp dụng các mô hình bổ cập nhân tạo nhằm phục hồi các tầng chứa nước, đặc biệt tại các khu vực có mức độ phụ thuộc lớn vào nguồn nước dưới đất.
Tăng cường giám sát chặt chẽ việc khai thác nước dưới đất, trong đó lưu ý việc khai thác nước dưới đất để tưới cho các cây công nghiệp; việc khai thác, sử dụng giếng khoan quy mô nhỏ, hộ gia đình để giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước dưới đất.
Có giải pháp khai thác luân phiên nguồn nước mặt và nguồn nước dưới đất, tránh việc khai thác nước dưới đất quá mức gây suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.