Sáng 19/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) đã tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Ba và vùng phụ cận thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng, chủ trì cuộc họp.
Tham dự cuộc họp có Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Ngô Mạnh Hà; đại diện các Bộ: Xây dựng, Công Thương, Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đại diện Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh: Gia Lai, Đắk Lắk; đại diện các đơn vị trực thuộc Bộ NN&MT; các chuyên gia tài nguyên nước.
Thừa ủy quyền Chủ tịch Hội đồng, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng, chủ trì cuộc họp.Quy hoạch theo hướng quản lý tổng hợp, bảo đảm an ninh nguồn nước
Báo cáo tại cuộc họp, ông Lương Quang Phục, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ ra quyết định và Phát triển tài nguyên nước (Cục Quản lý tài nguyên nước), cho biết lưu vực sông Ba và vùng phụ cận thuộc địa phận hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, có diện tích quy hoạch khoảng 16.027 km².
Trên cơ sở đặc điểm tự nhiên, nguồn nước và nhu cầu khai thác, sử dụng nước, phạm vi quy hoạch được phân chia thành 8 tiểu vùng gồm: Thượng lưu sông Ba; An Khê - Ba Ayun; Trung lưu sông Ba; hạ lưu sông Ba; Ba Ayun; Sông Hinh; sông Krông Năng và tiểu vùng phụ cận.
Ông Lương Quang Phục, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ ra quyết định và Phát triển tài nguyên nước (Cục Quản lý tài nguyên nước) báo cáo tại cuộc họpViệc phân chia không gian quy hoạch theo các tiểu vùng nhằm đánh giá cụ thể khả năng nguồn nước, nhu cầu khai thác, sử dụng nước và những vấn đề ưu tiên tại từng khu vực, đồng thời bảo đảm mối liên kết giữa các khu vực trong toàn lưu vực. Đây cũng là cơ sở để xem xét các quyết định khai thác, sử dụng nước ở thượng lưu trong mối quan hệ với yêu cầu cấp nước, duy trì dòng chảy và bảo vệ môi trường ở hạ lưu.
Lưu vực sông Ba có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền Trung - Tây Nguyên, cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và duy trì nhiều hệ sinh thái. Tuy nhiên, nguồn nước trên lưu vực phân bố không đồng đều theo thời gian. Trong tổng lượng nước mặt trung bình nhiều năm khoảng 11,35 tỷ m³, lượng nước mùa lũ chiếm khoảng 63,2%, trong khi mùa cạn chỉ chiếm 36,8%.
Thực tế này đặt ra yêu cầu đối với công tác quản lý không chỉ là khai thác nguồn nước, mà quan trọng hơn là phải chủ động tích trữ, điều hòa và phân phối nguồn nước hợp lý giữa mùa mưa và mùa khô, giữa thượng lưu và hạ lưu cũng như giữa các ngành, lĩnh vực sử dụng nước.
Theo dự thảo Quy hoạch, mục tiêu tổng quát là bảo đảm an ninh nguồn nước trên lưu vực; tích trữ, điều hòa, phân bổ tài nguyên nước công bằng, hợp lý; khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả gắn với bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước. Qua đó, đáp ứng nhu cầu nước cho dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Quy hoạch đồng thời hướng tới phòng, chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước và tác hại do nước gây ra; xây dựng lộ trình phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Một định hướng quan trọng khác là từng bước chuyển sang quản trị tài nguyên nước trên nền tảng công nghệ số thông qua Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia và các hệ thống, công cụ hỗ trợ ra quyết định, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong quản lý tài nguyên nước.
Ưu tiên nước sinh hoạt, điều hòa nguồn nước theo diễn biến thực tế
Dự thảo Quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030 giám sát, kết nối 100% công trình khai thác, sử dụng nước thuộc diện phải giám sát; hoàn thành công bố hành lang bảo vệ nguồn nước và khả năng chịu tải của các nguồn nước liên tỉnh quan trọng.
Trong lĩnh vực cấp nước và môi trường, tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý phấn đấu đạt trên 50%; 100% dân số đô thị được cấp nước sạch qua hệ thống tập trung và khoảng 62% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn.
Quang cảnh cuộc họpĐến năm 2050, công tác điều hòa, phân phối nước và vận hành hồ chứa, liên hồ chứa từng bước được thực hiện trên nền tảng số, theo thời gian thực, tạo cơ sở cho việc ra quyết định nhanh chóng, linh hoạt và phù hợp với diễn biến nguồn nước.
Nội dung trọng tâm của Quy hoạch là điều hòa, phân phối nguồn nước để đáp ứng nhu cầu sử dụng khoảng 2,52 tỷ m³/năm vào năm 2030 và 3,25 tỷ m³/năm vào năm 2050. Trong mọi tình huống, nước phục vụ sinh hoạt được xác định là nhu cầu ưu tiên cao nhất.
Theo đó, việc phân phối nguồn nước phải bảo đảm công bằng giữa thượng lưu và hạ lưu, đồng thời không vượt ngưỡng khai thác của từng nguồn nước. Thay vì áp dụng một phương án phân bổ cố định, lượng nước phân bổ hằng năm sẽ được điều chỉnh căn cứ vào dự báo khí tượng, thủy văn và diễn biến, trạng thái nguồn nước được xác định trong kịch bản nguồn nước. Khi nguồn nước có diễn biến bất lợi, chế độ vận hành phải ưu tiên cấp nước sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu ở hạ lưu sông Ba.
Gắn phân bổ nguồn nước với bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái
Cùng với điều hòa, phân phối, dự thảo Quy hoạch dành trọng tâm cho nhiệm vụ bảo vệ nguồn nước. Theo đó, từng sông, đoạn sông được phân vùng chức năng để kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng, xả thải và xác định các yêu cầu về chất lượng nước.
Quy hoạch đặt ra yêu cầu duy trì dòng chảy tối thiểu, bảo vệ nghiêm ngặt các nguồn cấp nước sinh hoạt; đồng thời xây dựng lộ trình phục hồi những đoạn sông bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm. Công tác kiểm soát xâm nhập mặn và bảo vệ rừng đầu nguồn cũng được xác định là những nội dung cần được chú trọng nhằm duy trì khả năng điều tiết và bảo vệ nguồn nước lâu dài.
Đối với các nguy cơ hạn hán, lũ lụt, ngập úng và sạt lở, dự thảo nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ không gian thoát lũ, nâng cao hiệu quả vận hành liên hồ chứa và hạn chế bố trí dân cư tại các khu vực có nguy cơ cao.
Bà Phạm Thị Hương Lan - Viện Thủy văn môi trường và Biến đổi khí hậu, Trường Đại học Thủy Lợi, ủy viên phản biện phát biểu tại cuộc họp
Ông Nguyễn Tiền Giang - Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ủy viên phản biện phát biểu tại cuộc họpTrong đó, khu vực hạ lưu sông Ba được xác định là địa bàn cần ưu tiên xây dựng các kế hoạch chi tiết về điều hòa, phân phối nguồn nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra. Đây là khu vực tập trung nhiều nhu cầu sử dụng nước, đồng thời chịu tác động trực tiếp từ hoạt động khai thác, điều tiết nguồn nước ở phía thượng lưu.
Tại cuộc họp, các ủy viên phản biện đề nghị tiếp tục làm rõ tính thống nhất của dự thảo với Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch ngành liên quan. Số liệu về nguồn nước, nhu cầu sử dụng, ngưỡng khai thác và dòng chảy tối thiểu cần được rà soát đồng bộ giữa báo cáo, phụ lục và bản đồ.
Các nhiệm vụ cũng phải được phân kỳ theo mức độ cấp bách, hiệu quả sử dụng nước và khả năng cân đối vốn. Những công trình đề xuất mới cần được đánh giá đầy đủ tác động đến dòng chảy, môi trường, sinh kế và hiệu quả đầu tư, tránh dàn trải hoặc làm phát sinh xung đột sử dụng nước.
Đại diện Bộ Xây dựng phát biểu tại cuộc họp
Đại diện Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk phát biểu tại cuộc họpTừ góc độ quản lý ngành, đại diện các bộ, ngành đề nghị tiếp tục làm rõ cơ chế phối hợp vận hành hồ thủy điện, thủy lợi, bảo đảm hài hòa giữa phát điện, giảm lũ và cấp nước cho hạ du. Quy hoạch cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và phát triển đô thị phải phù hợp với khả năng đáp ứng của nguồn nước; đồng thời cần có nguồn cấp dự phòng khi xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn hoặc sự cố ô nhiễm.
Các ý kiến cũng nhấn mạnh yêu cầu đầu tư đồng bộ hệ thống quan trắc, dữ liệu và công cụ hỗ trợ ra quyết định. Dữ liệu khí tượng thủy văn, tài nguyên nước, tình hình khai thác và chất lượng nước phải được kết nối, chia sẻ để phục vụ điều hành thực chất, thay vì tồn tại rời rạc tại từng ngành hoặc địa phương.
Phát biểu kết luận cuộc họp, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh đánh giá cao các ý kiến của thành viên Hội đồng, đồng thời đề nghị cơ quan lập Quy hoạch nghiêm túc tiếp thu, hoàn thiện.
Theo Cục trưởng, vấn đề quan trọng của Quy hoạch là cách tổ chức thực hiện khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước hoặc mâu thuẫn giữa các nhu cầu sử dụng, Quy hoạch phải cung cấp được căn cứ để điều hòa, phân phối, bảo vệ nguồn nước và xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan.
Cục trưởng cũng yêu cầu rà soát đầy đủ các nội dung liên quan đến địa phương, nhất là danh mục công trình khai thác, sử dụng nước, chức năng của từng nguồn nước, đoạn sông, phương án phân bổ nước và cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp. Các quy định phải đủ cụ thể để thực hiện, song vẫn bảo đảm khả năng điều chỉnh linh hoạt trước diễn biến thực tế của nguồn nước và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Trên cơ sở kết quả biểu quyết, Hội đồng thống nhất thông qua hồ sơ Quy hoạch với yêu cầu tiếp thu, chỉnh sửa và hoàn thiện.
Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đề nghị cơ quan lập Quy hoạch khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm Quy hoạch sau khi được phê duyệt thực sự trở thành công cụ quản trị nguồn nước có tính khả thi, có nguồn lực và có trách nhiệm thực hiện rõ ràng.