Sign In

Quản lý tài nguyên nước chuyển từ phản ứng sang chủ động dự báo từ sớm, từ xa

10:18 16/09/2026

Chọn cỡ chữ A a   chia sẻ facebook   chia sẻ zalo   chia sẻ zalo    

Tại Tọa đàm “An ninh nguồn nước - Từ thực tiễn đến hành động” do Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Minh Khuyến cho biết, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã tạo cơ sở pháp lý và hình thành hệ thống công cụ để từng bước chuyển quản lý nguồn nước từ thế bị động, ứng phó sang chủ động dự báo, điều hành từ sớm, từ xa.

 

Trong đó, kịch bản nguồn nước, quy hoạch tài nguyên nước, quy trình vận hành liên hồ chứa, quan trắc, cơ sở dữ liệu và hệ thống hỗ trợ ra quyết định được xác định là những công cụ quan trọng, giúp nâng cao khả năng dự báo, điều hòa và phân bổ nguồn nước theo diễn biến thực tế.
 

Kịch bản, quy trình vận hành liên hồ chứa là công cụ trực tiếp điều hòa nguồn nước
 

Theo Phó Cục trưởng Nguyễn Minh Khuyến, kịch bản nguồn nước được xây dựng, công bố hằng năm theo từng lưu vực sông, dự báo diễn biến nguồn nước trong năm và là cơ sở để các ngành, địa phương chủ động xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước, nhất là trong mùa cạn.
 

Khi dự báo nguồn nước suy giảm, phương án ứng phó phải được tính toán từ sớm. Đối với sản xuất nông nghiệp, dữ liệu nguồn nước giúp xác định lịch thời vụ, diện tích gieo trồng, cơ cấu sản xuất và nhu cầu tưới. Với thủy điện, đây là cơ sở xây dựng phương án vận hành hồ phù hợp. Đối với cấp nước sinh hoạt, dự báo sớm giúp chuẩn bị nguồn dự phòng, hạn chế bị động trước hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn.
Phó Cục trưởng Nguyễn Minh Khuyến chia sẻ, cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu kế hoạch sử dụng nước phải đi trước diễn biến nguồn nước, thay vì chỉ điều chỉnh khi thiếu nước đã xảy ra.

Phó Cục trưởng Nguyễn Minh Khuyến (bên phải) chia sẻ tại Tọa đàm "An ninh nguồn nước - Từ thực tiễn đến hành động".

Cùng với kịch bản, quy trình vận hành liên hồ chứa là công cụ trực tiếp để điều hòa nguồn nước trên toàn lưu vực. Mùa cạn cần ưu tiên tích trữ, duy trì dòng chảy và bảo đảm nguồn cho sinh hoạt, sản xuất. Trước các đợt mưa lũ, việc vận hành phải dựa trên quan trắc và dự báo để chủ động điều chỉnh mực nước, tạo dung tích phòng lũ, giảm rủi ro cho hạ du.
 

Theo Phó Cục trưởng Nguyễn Minh Khuyến, điều hành nguồn nước phải cân bằng lợi ích giữa các ngành, địa phương và giữa thượng lưu với hạ lưu, trong đó nước sinh hoạt được ưu tiên trước các nhu cầu sử dụng khác theo khả năng thực tế của nguồn nước.
 

Muốn làm được điều đó, quản lý theo lưu vực phải đi cùng cơ chế điều phối thống nhất, chia sẻ dữ liệu và phối hợp giữa các bên sử dụng nước. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp tục rà soát, bổ sung quy trình vận hành liên hồ theo hướng linh hoạt hơn, tăng ứng dụng quan trắc, dự báo và công nghệ kết nối.
 

Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ những quy định vận hành cố định sang điều hành theo trạng thái thực tế của nguồn nước, để khi mưa, dòng chảy hoặc nhu cầu sử dụng thay đổi, phương án phân bổ cũng có thể kịp thời thích ứng.
 

Tăng cường ứng dụng công nghệ số, quan trắc và hệ thống hỗ trợ ra quyết định
 

Muốn điều hòa, phân phối nước chính xác, trước hết phải nắm chắc diễn biến nguồn nước. Đây là lý do quan trắc tự động, cơ sở dữ liệu và hệ thống hỗ trợ ra quyết định đang trở thành những thành phần trọng tâm của quản lý tài nguyên nước.
 

Phó Cục trưởng Nguyễn Minh Khuyến cho biết, mạng lưới quan trắc hiện nay được hình thành từ nhiều nguồn, gồm hệ thống quan trắc của Trung ương, địa phương, các công trình khai thác, sử dụng nước và hệ thống khí tượng thủy văn.
 

Đối với các cơ sở khai thác, sử dụng nước, hiện có gần 1.000 cơ sở thực hiện quan trắc tự động, trực tuyến và kết nối với hệ thống giám sát của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Trong lĩnh vực khí tượng thủy văn, khoảng 77% trong tổng số khoảng 1.400 điểm quan trắc các yếu tố khí tượng thủy văn cơ bản đã được thực hiện tự động.
 

Hình ảnh minh họa

Đối với công trình khai thác nước phục vụ sinh hoạt, yêu cầu quản lý không chỉ dừng ở lưu lượng, mực nước mà còn phải theo dõi chất lượng nước và kết nối dữ liệu trực tuyến. Qua đó, cơ quan quản lý có thể đồng thời nắm được nguồn nước có bao nhiêu và có đáp ứng yêu cầu sử dụng hay không.
 

Đây là bước chuyển đáng chú ý so với phương thức quan trắc trước đây, khi nhiều nơi chủ yếu đo định kỳ, sau đó mới tổng hợp số liệu. Dữ liệu trực tuyến giúp rút ngắn thời gian từ khi phát hiện biến động đến khi đưa ra quyết định điều hành.
 

Hiện nay, hệ thống theo dõi tự động cũng đã được hình thành đối với hơn 100 hồ chứa lớn có khả năng điều tiết, trữ nước cho mùa cạn và cắt giảm lũ trong mùa mưa. Khi dữ liệu về lượng mưa, dòng chảy đến hồ, mực nước, dung tích trữ và tình hình khai thác được cập nhật đồng thời, việc vận hành có thể sát hơn với diễn biến thực tế.
 

Yêu cầu đặt ra là tiếp tục kết nối các nguồn dữ liệu này thành một hệ thống thống nhất, thay vì để số liệu phân tán ở từng cơ quan, đơn vị. Dữ liệu về tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, khai thác sử dụng nước và chất lượng nước cần được tích hợp để hình thành bức tranh chung về từng lưu vực.
 

Trên nền dữ liệu đó, hệ thống hỗ trợ ra quyết định có thể kết hợp số liệu quan trắc với mô hình dự báo, từ đó giúp cơ quan quản lý lựa chọn phương án vận hành phù hợp.
 

Khi dự báo cho thấy mùa cạn có nguy cơ thiếu nước, yêu cầu là chủ động tăng khả năng tích trữ từ trước. Khi dự báo mưa, lũ lớn, hồ chứa phải kịp thời tính toán phương án tạo dung tích phòng lũ. Tại khu vực chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn, dữ liệu độ mặn và dòng chảy là cơ sở xác định thời điểm lấy nước phù hợp.
 

Tại buổi tọa đàm, PGS.TS Nguyễn Mai Đăng, chuyên gia tài nguyên nước (Đại học Thủy lợi) cho rằng điểm thay đổi quan trọng của Luật Tài nguyên nước năm 2023 là chuyển từ thế bị động, ứng phó sang chủ động dự báo từ sớm, từ xa, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ số, quan trắc và hệ thống hỗ trợ ra quyết định. Các quyết định quản lý cần từng bước chuyển từ định tính sang định lượng bằng số liệu để nâng độ chính xác.
 

Từ góc độ điều hành, đây cũng là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu làm gia tăng tính bất định của nguồn nước. Những quy luật trước đây không còn đủ để làm căn cứ duy nhất cho vận hành. Hạn hán có thể kéo dài hơn, mưa lớn có thể xảy ra trong thời gian ngắn, xâm nhập mặn có thể thay đổi nhanh theo dòng chảy và thủy triều.
 

Do đó, trong thời gian tới, trọng tâm không chỉ là đầu tư thêm công trình mà phải hoàn thiện đồng bộ kịch bản nguồn nước, quan trắc tự động, cơ sở dữ liệu và công cụ hỗ trợ ra quyết định. Quy trình vận hành liên hồ chứa cần tiếp tục được cập nhật theo hướng linh hoạt, kết nối chặt với thông tin dự báo và số liệu thời gian thực.
 

Đồng thời, các địa phương phải chủ động xây dựng kế hoạch sử dụng nước trên cơ sở kịch bản đã được công bố; rà soát nhu cầu của từng ngành, xác định rõ thứ tự ưu tiên và chuẩn bị phương án ứng phó với các tình huống thiếu nước.
 

Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm nguồn nước được sử dụng đúng nơi, đúng thời điểm và đúng mục đích; hạn chế xung đột giữa các ngành, địa phương và nâng cao khả năng ứng phó trước hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn cũng như lũ lụt.

 

 

 

DWRM

Nội dung trong tệp đính kèm

Ý Kiến

Tham vấn kỹ thuật xây dựng Kịch bản nguồn nước lưu vực sông Sê San – Srêpốk

Ngày 17/9, tại Hà Nội, Cục Quản lý tài nguyên nước phối hợp với Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT), Đối tác Nước Úc (AWP) và Tổ chức Alluvium (Úc) tổ chức Họp tham vấn kỹ thuật “Xây dựng Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Sê San – Srêpốk”.

Ứng phó El Niño: Chủ động điều hòa, phân phối nguồn nước theo từng lưu vực sông

Trước nguy cơ El Niño tiếp tục làm suy giảm dòng chảy, thiếu hụt nguồn nước và gia tăng xâm nhập mặn trong mùa khô 2026–2027, Cục Quản lý tài nguyên nước đề nghị chủ động ứng phó từ sớm, từ xa; tăng cường tích nước tại các hồ chứa và điều hòa, phân phối nguồn nước theo từng lưu vực sông, bảo đảm nước cho sinh hoạt, sản xuất và các nhu cầu thiết yếu.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Bảo đảm nguồn nước là yêu cầu cấp thiết vùng Tây Nam sông Hậu

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Bảo đảm nguồn nước là yêu cầu cấp thiết vùng Tây Nam sông Hậu

Chiều 14/9, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp với Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, UBND TP. Cần Thơ, Văn phòng Chính phủ và UBND tỉnh Cà Mau về dự án “Trạm bơm nước thô vùng Tây Nam sông Hậu và Hệ thống tuyến ống truyền tải”.