Sign In

Thẩm định Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Trà Khúc: Hướng tới bảo đảm an ninh nguồn nước bền vững

13:10 09/10/2026

Chọn cỡ chữ A a   chia sẻ facebook   chia sẻ zalo   chia sẻ zalo    

Sáng 9/10, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Trà Khúc thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Thừa ủy quyền Chủ tịch Hội đồng, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng, chủ trì cuộc họp.

Tham dự có các ủy viên phản biện, thành viên Hội đồng; đại diện các bộ, ngành liên quan; lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ngãi; các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước.

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng phát biểu chủ trì chủ trì cuộc họp

Áp lực ngày càng lớn đối với tài nguyên nước lưu vực sông Trà Khúc


Theo báo cáo của Viện Khoa học tài nguyên nước thuộc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, lưu vực sông Trà Khúc và vùng phụ cận có diện tích khoảng 6.235 km², nằm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi. Tổng lượng tài nguyên nước của vùng chiếm khoảng 0,96% tổng lượng tài nguyên nước cả nước, giữ vai trò quan trọng đối với đời sống dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.


Tuy nhiên, tài nguyên nước trên lưu vực đang chịu sức ép ngày càng lớn từ hoạt động khai thác, sử dụng nước, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, vận hành hồ chứa, nguy cơ ô nhiễm và suy thoái nguồn nước. Cùng với đó, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ lụt, ngập úng và tác động của biến đổi khí hậu đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức quản lý theo hướng tổng hợp, thống nhất trên phạm vi toàn lưu vực.


Tổng lượng tài nguyên nước của vùng quy hoạch ước khoảng 10,97 tỷ m³, trong đó nước mặt đạt khoảng 10,67 tỷ m³, chiếm 97,15%; nước dưới đất khoảng 0,31 tỷ m³, chiếm 2,85%. Nguồn nước mặt phân bố không đồng đều theo mùa: dòng chảy mùa lũ, từ tháng 10 đến tháng 12, chiếm khoảng 61,6% tổng lượng dòng chảy năm, trong khi mùa kiệt chỉ chiếm 38,4%.


Sự chênh lệch này khiến nhiều khu vực gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn nước, nhất là vùng hạ lưu chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn và các địa bàn sâu, xa thường xuyên thiếu nước cục bộ vào mùa khô. Trong khi đó, lưu vực có đặc trưng dòng chảy biến động mạnh theo mùa, lũ lên nhanh, tiềm ẩn nguy cơ ngập lụt lớn ở hạ du.


Hệ thống hồ chứa, đặc biệt các hồ lớn ở thượng nguồn, có vai trò quan trọng trong điều tiết dòng chảy, giảm lũ, cấp nước mùa cạn và phát điện. Tuy nhiên, khả năng điều tiết của các hồ chưa thể kiểm soát toàn bộ lượng nước hình thành trên lưu vực; dòng chảy từ khu vực giữa lưu vực và hạ lưu vẫn ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng ngập lụt.


Kết quả tính toán cân bằng nước trong dự thảo cho thấy, đến năm 2030, với tần suất bảo đảm nguồn nước P85, lượng thiếu nước dự kiến tại hạ lưu sông Trà Khúc khoảng 6,17 triệu m³; lưu vực sông Trà Bồng và phụ cận khoảng 110,26 triệu m³; sông Vệ và phụ cận khoảng 90,99 triệu m³; đặc khu Lý Sơn khoảng 1,68 triệu m³.


Những số liệu này cho thấy thách thức của lưu vực không chỉ nằm ở tổng lượng nước hiện có mà còn ở khả năng tích trữ, điều tiết, chuyển tải và phân phối nước đến đúng địa điểm, đúng thời điểm có nhu cầu.

Quang cảnh cuộc họp

Điều hòa, phân phối nước gắn với nhu cầu phát triển


Theo dự thảo, nhu cầu khai thác, sử dụng nước của toàn vùng dự kiến đạt khoảng 1.078,97 triệu m³/năm vào năm 2030 và tăng lên 1.144,23 triệu m³/năm vào năm 2050. Sự phát triển của các khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ và hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ tiếp tục gia tăng áp lực lên nguồn nước, nhất là trong những năm khô hạn và tại các khu vực tập trung nhu cầu lớn.


Bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt và các khu dân cư được xác định là nhiệm vụ ưu tiên. Hiện nước mặt sông Trà Khúc là một trong những nguồn cấp nước sinh hoạt quan trọng của khu vực. Nhà máy nước Quảng Ngãi có công suất khai thác khoảng 25.000 m³/ngày đêm trong năm 2025, dự kiến nâng lên 50.000 m³/ngày đêm vào năm 2030. Nhà máy nước An Phú cũng được dự kiến đưa vào phương án cấp nước với công suất khoảng 10.000 m³/ngày đêm vào năm 2030.


Ngoài nguồn nước sông Trà Khúc, các suối, hồ chứa và hệ thống thủy lợi Thạch Nham đang phục vụ nhu cầu nước của khu dân cư, khu kinh tế và khu công nghiệp. Vì vậy, dự thảo nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ chất lượng nguồn nước, duy trì dòng chảy tối thiểu, bảo vệ khu vực lấy nước sinh hoạt và xây dựng phương án dự phòng khi xảy ra sự cố ô nhiễm.


Hệ thống thủy lợi trên lưu vực tương đối phát triển, với khoảng 800 công trình, gồm 126 hồ chứa, 528 đập dâng, 7 đập, cống ngăn mặn và 139 trạm bơm. Tổng năng lực tưới theo thiết kế đạt khoảng 68.943 ha, nhưng diện tích được tưới thực tế khoảng 48.460 ha, tương đương 70,3% năng lực thiết kế. Trong tổng số khoảng 4.275 km kênh mương, tỷ lệ kiên cố hóa mới đạt 56,8%.


Thực trạng này đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện hệ thống dẫn nước, nâng cao hiệu quả khai thác và vận hành công trình, tăng khả năng tích trữ, phân phối nước, đặc biệt trong mùa khô. Đồng thời, cần phát huy hiệu quả đa mục tiêu của các hồ chứa hiện có, kết hợp cấp nước, phát điện, duy trì dòng chảy tối thiểu và giảm lũ cho hạ du.


Hoạt động thủy điện cũng là một yếu tố cần được xem xét trong điều hòa nguồn nước. Toàn vùng có 53 công trình, dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy khoảng 888,1 MW; trong đó 23 dự án đã hoàn thành, đưa vào vận hành với tổng công suất 465,6 MW. Các công trình tập trung chủ yếu ở thượng nguồn sông Trà Khúc, lưu vực Đắk Lô, Đắk Đrinh và các phụ lưu.


Mặc dù thủy điện về cơ bản là loại hình sử dụng nước không tiêu hao, hoạt động vận hành hồ điều tiết, thủy điện đường dẫn, công trình chuyển nước và chuỗi thủy điện bậc thang có thể làm thay đổi chế độ dòng chảy theo không gian và thời gian. Điều này có khả năng ảnh hưởng đến các đoạn sông phía hạ lưu, nhu cầu khai thác nước và hệ sinh thái thủy sinh.


Do đó, quy hoạch cần làm rõ phương án phối hợp vận hành hồ chứa, bảo đảm hài hòa giữa phát điện, cấp nước, duy trì dòng chảy tối thiểu và phòng, chống lũ.

Quang cảnh cuộc họp


Tăng cường bảo vệ nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm và xâm nhập mặn


Bên cạnh yêu cầu phân bổ nước hợp lý, bảo vệ chất lượng nguồn nước và phục hồi các khu vực suy thoái, cạn kiệt được xác định là nội dung trọng tâm của Quy hoạch.


Kết quả dự báo đến năm 2030 cho thấy một số khu vực ven sông Trà Khúc có xu thế hạ thấp mực nước dưới đất khoảng 0,1–0,2 m/năm. Nguy cơ nhiễm mặn tại các tầng chứa nước Holocen và Pleistocen có phạm vi phân bố hạn chế nhưng tập trung ở một số khu vực thuộc Tịnh Khê, An Phú, Vệ Giang và Long Phụng.


Trước nguy cơ này, cần kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác nước dưới đất, bảo vệ các vùng bổ cập, tăng cường quan trắc và phối hợp quản lý nước mặt với nước dưới đất, nhất là tại các khu vực ven biển. Việc kiểm soát nước thải, bảo vệ hành lang nguồn nước và duy trì chức năng của từng nguồn nước cũng cần được triển khai đồng bộ.


Nguồn nước trên lưu vực không chỉ phục vụ sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản mà còn gắn với du lịch, dịch vụ, các hoạt động văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội. Vì vậy, quy hoạch cần xác định rõ chức năng nguồn nước, yêu cầu bảo vệ chất lượng nước, dòng chảy tối thiểu, hành lang bảo vệ nguồn nước và không gian thoát lũ, qua đó bảo đảm hài hòa giữa khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước.


Dự thảo được xây dựng trên cơ sở định hướng của Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050, được phê duyệt tại Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 27/12/2022. Theo đó, quản lý tài nguyên nước cần được thực hiện thống nhất theo lưu vực sông, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, công bằng, hợp lý, đa mục tiêu, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước.


Xác định bảy tiểu vùng, hướng tới quản trị tài nguyên nước hiện đại


Theo đơn vị lập quy hoạch, phạm vi quy hoạch được chia thành 7 tiểu vùng: lưu vực sông Đắk Đrinh, lưu vực sông Đắk Lô, thượng lưu sông Trà Khúc, hạ lưu sông Trà Khúc, lưu vực sông Trà Bồng, lưu vực sông Vệ và đặc khu Lý Sơn.


Quan điểm xuyên suốt là quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông và nguồn nước; lấy tài nguyên nước làm yếu tố cốt lõi trong quy hoạch phát triển. Việc khai thác, sử dụng nước phải gắn với bảo vệ chất lượng nguồn nước, duy trì dòng chảy tối thiểu, ưu tiên nhu cầu sinh hoạt và phân bổ hợp lý giữa thượng lưu với hạ lưu, giữa các ngành và các đối tượng sử dụng nước.


Mục tiêu tổng quát là bảo đảm an ninh nguồn nước; điều hòa, phân phối và sử dụng nước công bằng, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả; bảo vệ, phục hồi nguồn nước, phòng ngừa suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và giảm thiểu tác hại do nước gây ra. Quy hoạch đồng thời hướng tới từng bước hiện đại hóa, số hóa công tác quản trị tài nguyên nước.


Đến năm 2030, vùng quy hoạch phấn đấu nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn nước, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các địa phương và đối tượng sử dụng; bảo vệ nguồn nước mặt, nước dưới đất, nguồn sinh thủy và hành lang bảo vệ nguồn nước. Công tác quan trắc, giám sát, dự báo, kiểm soát nước thải và ứng dụng công nghệ số, công cụ hỗ trợ ra quyết định trong quản lý, điều hành tài nguyên nước sẽ được tăng cường.
Tầm nhìn đến năm 2050 là bảo đảm an ninh nguồn nước bền vững, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; chủ động phòng, chống tác hại do nước gây ra. Việc điều hòa, phân phối nước và vận hành hồ chứa hướng tới nền tảng số, cập nhật theo thời gian thực, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị sử dụng nước.


Các nhóm nhiệm vụ chính của Quy hoạch gồm điều hòa, phân phối tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra. Trong đó, chú trọng xây dựng phương án phân bổ nước trong điều kiện bình thường, thiếu nước và thiếu nước nghiêm trọng; bảo vệ nguồn cấp nước sinh hoạt, duy trì dòng chảy tối thiểu, phát triển nguồn sinh thủy và phục hồi nguồn nước bị suy thoái.


Đối với công tác phòng, chống thiên tai, Quy hoạch định hướng giảm thiểu hạn hán, thiếu nước, lũ lụt, ngập úng nhân tạo, sạt lở lòng, bờ, bãi sông, sụt lún và xâm nhập mặn; nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, liên hồ chứa; tăng cường quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước và hạn chế các hoạt động san lấp hồ, ao, đầm, cống hóa sông, suối làm ảnh hưởng đến khả năng điều tiết, thoát nước tự nhiên.


Dự thảo cũng đề xuất ưu tiên lập kế hoạch chi tiết điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng nước và phòng, chống tác hại do nước gây ra tại hạ lưu sông Trà Khúc, lưu vực sông Trà Bồng và phụ cận, lưu vực sông Vệ và phụ cận. Các giải pháp thực hiện bao gồm hoàn thiện chính sách, huy động nguồn lực tài chính, ứng dụng khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, tăng cường giám sát và tổ chức triển khai quy hoạch.

GS.TS Trần Đình Hòa, Giám đốc Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam, Ủy viên phản biện phát biểu tại cuộc họp

Hoàn thiện dự thảo, bảo đảm đồng bộ với các quy hoạch liên quan


Tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng và chuyên gia cơ bản thống nhất với cách tiếp cận của dự thảo theo ba định hướng chính: điều hòa, phân phối tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục rà soát, bổ sung để bảo đảm tính thống nhất, đầy đủ và khả thi của hồ sơ.

Ông Bùi Đức Thái, Sở NN&MT tỉnh Quảng Ngãi phát biểu tại cuộc họp

Các đại biểu lưu ý cần thống nhất danh mục, hiện trạng và nhiệm vụ của các công trình thủy lợi, thủy điện, đặc biệt là những công trình có vai trò điều tiết, cấp nước và duy trì dòng chảy hạ du như Nước Trong, Đắk Đrinh và Thạch Nham. Việc rà soát cần tránh trùng lặp hoặc khác biệt về thông tin, tình trạng công trình giữa Quy hoạch lưu vực sông Trà Khúc với quy hoạch điện, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành đã được phê duyệt.

PGS.TS Nguyễn Tiền Giang - Trưởng khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) phát biểu tại cuộc họp

Đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi đánh giá dự thảo đã bao quát tương đối đầy đủ các nội dung về tài nguyên nước mặt, nước dưới đất, khai thác và sử dụng nước, phân bổ nguồn nước, bảo vệ nguồn nước, phòng, chống ngập lụt, sạt lở, sụt lún, xâm nhập mặn, quan trắc và giám sát. Tuy nhiên, cần thể hiện rõ hơn tính liên kết giữa Quy hoạch với Quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành về thủy lợi, cấp nước, phòng, chống thiên tai, đô thị, công nghiệp, nông nghiệp và năng lượng.

Ông Nguyễn Tiến Long, Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Một đề xuất đáng chú ý là xây dựng phụ lục ma trận đối chiếu giữa Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Trà Khúc với các quy hoạch liên quan, làm rõ những nội dung giao thoa hoặc chồng lấn, nhất là danh mục công trình điều tiết, khai thác và sử dụng nước, công trình phòng, chống lũ, cấp nước và các công trình có tác động lớn đến chế độ dòng chảy.

Ông Đặng Tiến Diện, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi phát biểu tại cuộc họp phát biểu tại cuộc họp

Các ý kiến cũng đề nghị kiểm tra, bổ sung số liệu tài nguyên nước mặt theo từng tiểu vùng, nhất là sông Vệ, sông Trà Bồng, Trà Câu và hạ lưu sông Trà Khúc; rà soát kết quả cân bằng nước và phương án phân bổ theo thứ tự ưu tiên. Đồng thời, cần bổ sung các kịch bản thiếu nước gắn với giải pháp xây dựng công trình và tiết kiệm nước; làm rõ tiêu chí lựa chọn khu vực ưu tiên lập kế hoạch chi tiết, xem xét bổ sung Lý Sơn, Dung Quất và hệ thống Thạch Nham; xây dựng khái toán, phân kỳ đầu tư cho các giải pháp công trình.

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh phát biểu kết luận cuộc họp.


Phát biểu kết luận, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đánh giá cao các ý kiến góp ý của thành viên Hội đồng và chuyên gia, đồng thời đề nghị đơn vị tư vấn cùng các đơn vị chuyên môn nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu, giải trình và tiếp tục hoàn thiện dự thảo.


Cục trưởng yêu cầu rà soát đồng bộ với Quy hoạch tài nguyên nước, các quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh có liên quan; xác định rõ hiện trạng, nhu cầu khai thác, sử dụng nước trên lưu vực; kiểm tra kỹ các nội dung về dòng chảy tối thiểu, danh mục công trình và chức năng nguồn nước.


Cục trưởng Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh, việc hoàn thiện Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Trà Khúc có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao hiệu quả quản lý, điều hòa và phân phối nguồn nước, chủ động ứng phó với các rủi ro hạn hán, thiếu nước, lũ lụt và xâm nhập mặn, đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là cơ sở để tăng cường phối hợp quản lý tài nguyên nước giữa các địa phương, ngành và đối tượng sử dụng, hướng tới bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.

DWRM

Nội dung trong tệp đính kèm

Ý Kiến

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng

Ngày 6/10, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1936/QĐ-TTg ban hành Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng nhằm nâng cao hiệu quả điều tiết nguồn nước, bảo đảm an toàn công trình, phòng chống lũ và đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước ở hạ du.
Chủ động ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước trên lưu vực sông Đồng Nai do ảnh hưởng của El Niño

Chủ động ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước trên lưu vực sông Đồng Nai do ảnh hưởng của El Niño

Ngày 2/10, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp ký Văn bản số 11331/BNNMT-TNN gửi UBND Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đồng Nai và các tỉnh Lâm Đồng, Tây Ninh, Khánh Hòa, đề nghị chủ động triển khai các giải pháp ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước phục vụ sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 do ảnh hưởng của El Niño trên lưu vực sông Đồng Nai.

Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng tiếp xúc cử tri tại Lào Cai

Chiều 30/9, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cùng thành viên Tổ đại biểu Quốc hội số 2, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai tiếp xúc cử tri tại xã Văn Bàn.