Các chuyên gia cho rằng hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé đã phát huy hiệu quả kiểm soát xâm nhập mặn và ổn định sản xuất trên hơn 384.000ha. Tuy nhiên, cần sớm đầu tư khép kín các cụm cống và điều chỉnh quy trình vận hành để nâng cao hiệu quả khai thác, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á phối hợp với Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi miền Nam vừa tổ chức hội thảo về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống công trình thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Hội thảo thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và các đơn vị quản lý liên quan.
Phát biểu khai mạc, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh, Viện Tài nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á cho biết, hội thảo tập trung đánh giá hiệu quả vận hành hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé trong phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; đồng thời đề xuất các giải pháp điều chỉnh cơ cấu sản xuất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, điều kiện sinh thái và định hướng phát triển bền vững của vùng.
Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái BéTheo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Doãn Tuấn, hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 1 đã phát huy vai trò quan trọng trong kiểm soát xâm nhập mặn, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất trên hơn 384.000ha thuộc khu vực bán đảo Cà Mau. Công trình góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho vùng hưởng lợi.
Tuy nhiên, tại một số khu vực như Kim Quy, Xẻo Quao và phía Bắc huyện Hồng Dân, công tác kiểm soát mặn vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Nguyên nhân chủ yếu do hệ thống cống, đập chưa được đầu tư đồng bộ và khép kín, dẫn đến độ mặn có thời điểm vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến sản xuất.
Để nâng cao hiệu quả vận hành, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Doãn Tuấn đề xuất tiếp tục hoàn thiện các hạng mục còn thiếu, đặc biệt là các cụm cống tại Cà Mau, An Biên 1, An Biên 2 và An Minh. Đồng thời, cần tăng cường phối hợp vận hành giữa hệ thống Cái Lớn - Cái Bé và hệ thống Quản Lộ - Phụng Hiệp nhằm tối ưu khả năng điều tiết nguồn nước, nhất là tại khu vực Bắc Hồng Dân.
Tại hội thảo, Thạc sĩ Nguyễn Đăng Luân, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cho rằng, trong quá trình điều chỉnh quy trình vận hành hệ thống đến năm 2030, cần duy trì ổn định các vùng sản xuất thủy sản nước mặn, nước lợ ven biển, bảo tồn và phát triển mô hình tôm - lúa, đồng thời tăng cường năng lực của hệ thống thủy lợi nội đồng để hỗ trợ kiểm soát mặn hiệu quả hơn.
Ông cũng kiến nghị địa phương sớm hoàn thiện hệ thống điện phục vụ vận hành các cống thuộc khu vực An Minh - An Biên, tạo điều kiện cho việc điều tiết nước chủ động và linh hoạt.
Đánh giá kết quả các nghiên cứu đã thực hiện, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh cho rằng những đề xuất khoa học tại hội thảo sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé, bảo đảm ổn định các vùng sinh thái ngọt, đồng thời hỗ trợ định hướng phát triển cơ cấu sản xuất phù hợp từ trồng lúa đến nuôi trồng thủy sản.
Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, trong thời gian tới, khi các bộ, ngành triển khai đầu tư hoàn thiện các công trình thủy lợi ven biển, hệ thống Cái Lớn - Cái Bé sẽ được kết nối đồng bộ và khép kín hơn. Điều này không chỉ nâng cao năng lực kiểm soát mặn, điều tiết nguồn nước mà còn giúp An Giang và các địa phương lân cận chủ động hơn trong bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.