Trung tâm cảnh báo và dự báo tài nguyên nước (Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia) vừa xuất bản Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất tháng 03 năm 2026. Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất tháng trên lưu vực sông Mã được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Lưu vực sông Mã là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm lãnh thổ của các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Phú Thọ, Thanh Hóa và Nghệ An, với diện tích lưu vực là 17.600 km². Nguồn nước dưới đất trên lưu vực sông Mã được quan trắc tại khu vực đồng bằng tỉnh Thanh Hóa phân bố chủ yếu trong các tầng chứa nước gồm: tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh) và tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp); Tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước: tầng chứa nước qh là 1.588.013 m3/ngày, tầng chứa nước qp là 3.429.565 m3/ngày.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh)
Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế hạ, có 7/11 công trình mực nước hạ, 4/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,92m tại xã Quảng Chính (QT12-TH).
Trong tháng 2: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,71m tại phường Sầm Sơn (QT9-TH) và sâu nhất là -9,99m tại xã Xuân Hòa (QT4-TH).
Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 2 so với cùng thời điểm 1 năm, 5 năm và 10 năm trước cho thấy mực nước suy giảm lớn nhất lần lượt là 1,00m; 1,46m và 2,00m tại phường Hạc Thành, phường Tân Dân và xã Xuân Hoà.
Diễn biến mực nước dưới đất dự báo tháng 3 so với mực nước quan trắc tháng 2 có xu thế hạ, có 6/11 công trình mực nước hạ, 4/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/11 công trình mực nước dâng. Mực nước hạ từ 0,05 đến 0,2m ở xã Vạn Lộc và mực nước dâng từ 0,05 đến 0,2m ở xã Thiệu Trung.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp)
Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 2 so với tháng 1 có xu thế hạ, có 11/13 công trình mực nước hạ, 1/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/13 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,25m tại xã Xuân Hòa (QT4a-TH) và giá trị dâng là 0,12m tại xã Yên Trường (QT1a-TH).
Trong tháng 2: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,97m tại xã Thọ Phú (QT10a-TH) và sâu nhất là -9,37m tại xã Xuân Hòa (QT4a-TH).
Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 2 so với cùng thời điểm 1 năm, 5 năm và 10 năm trước cho thấy mực nước suy giảm lớn nhất lần lượt là 1,67m; 1,75m và 2,32m tại phường Hạc Thành và xã Thọ Xuân.
Diễn biến mực nước dưới đất dự báo tháng 3 so với mực nước quan trắc tháng 2 có 6/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể, 5/13 công trình mực nước hạ và 2/13 công trình mực nước dâng. Mực nước hạ từ 0,2 đến 0,5m ở xã Xuân Hòa và mực nước dâng từ 0,5 đến 1m ở phường Sầm Sơn.
Dự báo mực nước dưới đất tháng 3 so với mực nước quan trắc tháng 2 có xu thế hạ tại tầng chứa nước qh; xu thế hạ và dâng hạ không đáng kể tại tầng qp. Các công trình thuộc lưu vực sông thời điểm hiện tại chưa có công trình nào có độ sâu mực nước cần phải cảnh báo. Nước trong lưu vực sông thuộc loại nước nhạt đến mặn, vùng lợ và mặn phân bố trong tầng chứa nước qp của các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa, tại một số công trình có thông số Mn, As, Pb và NH4+ vượt GTGH theo QCVN 09:2023/BTNMT.
Hiện tại, trên phạm vi lưu vực sông Mã chưa có công trình thuộc diện phải cảnh báo, để đảm bảo khai thác ổn định, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước trong lưu vực sông và các bản tin dự báo tiếp theo để phục vụ quản lý, khai thác hiệu quả nguồn nước dưới đất.
Đa số các thông số chất lượng nước trên lưu vực sông nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH, tập trung ở tầng chứa nước Holocen (qh) và Pleistocen (qp). Các thông số vượt chủ yếu bao gồm độ mặn, Mangan, Arsenic, Chì và Amoni.