Ngày 11/8, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3185/QĐ-BNNMT về Kế hoạch cải cách hành chính trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030.
Kế hoạch hướng tới triển khai đồng bộ các nhiệm vụ cải cách hành chính theo Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 2030 và Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 12/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước trọng tâm giai đoạn 2026 2030;. Trong đó, Bộ tập trung hoàn thiện thể chế, đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, điều hành, góp phần phát triển ngành nông nghiệp và môi trường nhanh, bền vững.
Bộ phận Một cửa cơ sở 1 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường tại số 10 Tôn Thất Thuyết, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Thủy.Phấn đấu 100% thủ tục đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình
Kế hoạch xác định các mục tiêu cụ thể theo hai giai đoạn. Trong giai đoạn 2026–2027, Bộ phấn đấu hoàn thành sửa đổi, bổ sung hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và sắp xếp các đơn vị sự nghiệp, trường học, cơ sở y tế, doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ.
Về chuyển đổi số, 100% nền tảng số quốc gia và nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực phục vụ Chính phủ số được hoàn thành, đưa vào sử dụng thống nhất theo kế hoạch. Toàn bộ đơn vị trực thuộc Bộ phấn đấu đạt cấp độ 3 về trưởng thành quản trị dữ liệu; 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện do Bộ thực hiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Tỷ lệ cấp kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử đạt 100%, trong khi mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến đạt 95%.
Giai đoạn 2028–2030, Bộ hướng tới hoàn thiện hệ thống thể chế lĩnh vực nông nghiệp và môi trường công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch và khả thi; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Các chỉ tiêu đáng chú ý gồm: mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính đạt tối thiểu 95%; tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin, dữ liệu đã số hóa trong giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công đạt 90%; tỷ lệ thanh toán trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia đạt 80%. Đồng thời, 100% đơn vị trực thuộc Bộ phấn đấu đạt cấp độ 4 về trưởng thành quản trị dữ liệu, 100% cơ quan, đơn vị cung cấp dữ liệu mở đúng chuẩn và chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước thuộc Bộ (SIPAS) đạt tối thiểu 95%.
Triển khai đồng bộ sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Kế hoạch xác định sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, cải cách thể chế, tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, bất cập, xử lý vướng mắc liên quan đến phân cấp, phân quyền và tổ chức bộ máy. Đồng thời, rà soát, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, nâng cao chất lượng xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ và giấy tờ không cần thiết; tăng cường kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu để hạn chế yêu cầu cung cấp lại thông tin đã có. Việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công được đổi mới theo hướng chủ động phục vụ, thuận tiện, minh bạch, giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp.
Thứ ba, cải cách tổ chức bộ máy, tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị; khắc phục tình trạng chồng chéo, bảo đảm hoạt động thông suốt từ Trung ương đến cơ sở. Bộ đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, trách nhiệm giải trình và tiếp tục rà soát, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp, cơ sở giáo dục, y tế và doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ.
Thứ tư, cải cách chế độ công vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm; đổi mới đánh giá dựa trên kết quả và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng theo khung năng lực, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài; đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, nhũng nhiễu, tiêu cực.
Thứ năm, cải cách tài chính công, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, thực hiện hiệu quả quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị; đổi mới cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ sự nghiệp công và nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp nhà nước. Việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, trụ sở làm việc sau sắp xếp tổ chức bộ máy cũng được tăng cường, gắn với ứng dụng công nghệ thông tin.
Thứ sáu, xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số, tập trung phát triển hạ tầng số, nền tảng số và hệ thống dữ liệu ngành theo hướng tập trung, thống nhất, an toàn; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu với Trung tâm dữ liệu quốc gia. Bộ đẩy mạnh số hóa, làm sạch và liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành, trong đó có dữ liệu đất đai, thị trường nông sản, nguồn thải và tài nguyên nước; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong quản lý ngành, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến.
Nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường kiểm tra và giám sát
Bên cạnh sáu nhóm nhiệm vụ trọng tâm, Kế hoạch đề ra các giải pháp tổ chức thực hiện, trong đó nhấn mạnh vai trò chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu; tăng cường phổ biến, quán triệt các chủ trương, kế hoạch cải cách hành chính đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Kết quả cải cách hành chính được xác định là một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giá, bình xét thi đua, khen thưởng hằng năm.
Bộ cũng chú trọng kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác cải cách hành chính; thường xuyên kiểm tra, đánh giá, đo lường mức độ hài lòng của người dân, tổ chức; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, bảo đảm nguồn lực thực hiện và kịp thời khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích, xử lý nghiêm những trường hợp thiếu trách nhiệm hoặc thực hiện không nghiêm nhiệm vụ được giao.