Sign In

Hoàn thiện danh mục nguồn nước mặt bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc

13:30 22/10/2026

Chọn cỡ chữ A a   chia sẻ facebook   chia sẻ zalo   chia sẻ zalo    

Ngày 22/10/2026, tại Hà Nội, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia tổ chức Hội thảo “Kết quả lập danh mục nguồn nước mặt bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm”, thuộc nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”.

 

TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, chủ trì Hội thảo. Tham dự có đại diện các cơ quan, đơn vị liên quan, chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước, môi trường và các đơn vị chuyên môn thuộc Trung tâm.

TS. Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia phát biểu chủ trì Hội thảo


Hoàn thiện cơ sở khoa học để nhận diện các nguồn nước chịu tác động


Phát biểu tại Hội thảo, TS. Nguyễn Ngọc Hà cho biết, nhiệm vụ được triển khai nhằm đánh giá thực trạng các nguồn nước mặt trên các sông liên tỉnh trên phạm vi toàn quốc; xác định, phân loại những nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và làm rõ các nguyên nhân chủ yếu. Kết quả thực hiện là cơ sở quan trọng để lập danh mục các nguồn nước cần quan tâm, phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở quy mô liên tỉnh và toàn quốc.


Trong bối cảnh nhu cầu khai thác, sử dụng nước ngày càng đa dạng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tạo ra nhiều áp lực đối với môi trường nước, trong khi chế độ dòng chảy có thể biến động theo mùa và điều kiện khí hậu, việc đánh giá đầy đủ hiện trạng nguồn nước có ý nghĩa thiết thực. Kết quả điều tra, phân loại và lập danh mục sẽ góp phần chuyển hóa thông tin chuyên môn thành cơ sở dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách, xác định thứ tự ưu tiên và tổ chức các giải pháp quản lý, bảo vệ nguồn nước.


Hội thảo được tổ chức nhằm báo cáo, trao đổi và đánh giá kết quả lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; đồng thời tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học và đơn vị chuyên môn để rà soát, hoàn thiện sản phẩm của nhiệm vụ. Các nội dung được xem xét tập trung vào tính khoa học của phương pháp, tính thống nhất của dữ liệu, độ tin cậy của kết quả phân loại và khả năng ứng dụng trong thực tiễn quản lý tài nguyên nước.


Tại Hội thảo, đại diện các đơn vị đã trình bày các tham luận về kết quả xây dựng bộ tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá và phân loại nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; kết quả tổng hợp danh mục trên 16 lưu vực sông; kết quả lập danh mục tại lưu vực sông Hồng - Thái Bình, lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Cửu Long.

Các đại biểu tham dự Hội thảo

Rà soát 738 nguồn nước trên 16 lưu vực sông


Theo báo cáo tổng hợp được trình bày tại Hội thảo, nhiệm vụ đã rà soát, tổng hợp và đánh giá các nguồn nước thuộc 16 lưu vực sông liên tỉnh, liên quốc gia. Phụ lục tổng hợp hiện tại bao gồm 738 nguồn nước, trong đó có 701 sông, suối, kênh, rạch và 37 hồ.


Nguồn thông tin phục vụ đánh giá được tổng hợp từ kết quả quan trắc, điều tra cơ bản, các nhiệm vụ và dự án có liên quan, kết hợp với kết quả điều tra, khảo sát bổ sung. Trên cơ sở đặc điểm thủy văn, hiện trạng khai thác, sử dụng nước, nguồn thải và mức độ đáp ứng của số liệu, các nguồn nước được phân đoạn để đánh giá, phân loại theo tình trạng ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt.


Đối với chất lượng nước, nhiệm vụ sử dụng kết quả quan trắc và chỉ số CCME WQI để hỗ trợ đánh giá. Đối với số lượng nước, các chỉ tiêu được xem xét gồm đặc trưng dòng chảy mùa kiệt, lưu lượng Q85%, chỉ số thiếu hụt dòng chảy và thông tin liên quan đến hoạt động khai thác, sử dụng, điều tiết nguồn nước. Cách tiếp cận này nhằm kết hợp các khía cạnh về chất lượng và số lượng nước, đồng thời xem xét đặc điểm riêng của từng nguồn nước và điều kiện dữ liệu hiện có.


Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi về phạm vi và đối tượng điều tra; phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin; việc xác định vị trí, phạm vi các đoạn sông có dấu hiệu bị tác động; cũng như các biểu hiện suy giảm chất lượng nước, biến đổi chế độ dòng chảy và thiếu hụt nguồn nước.


Các ý kiến cũng nhấn mạnh yêu cầu kết hợp hợp lý giữa số liệu quan trắc, thông tin thủy văn, dữ liệu khai thác, sử dụng nước và kết quả khảo sát thực địa. Đây là cơ sở để nâng cao tính khách quan, độ tin cậy của kết quả phân loại, hạn chế tình trạng đánh giá chưa đồng đều giữa các lưu vực hoặc giữa những đoạn khác nhau trên cùng một nguồn nước.


Bên cạnh đó, việc đồng bộ hóa dữ liệu, thống nhất tiêu chí nhận diện và phân loại, xác định rõ nguyên nhân cũng như mức độ tác động đến tài nguyên nước được xem là những vấn đề cần tiếp tục rà soát trong quá trình hoàn thiện sản phẩm. Đối với những nguồn nước chưa có đủ chuỗi số liệu hoặc chưa đủ cơ sở để kết luận, cần phân biệt rõ mức độ chắc chắn của kết quả đánh giá, tránh xác định tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt khi thông tin chưa đáp ứng yêu cầu.

 
Đại diện các đơn vị báo cáo kết quả thực hiện  nhiệm vụ

Theo kết quả tổng hợp được báo cáo tại Hội thảo, đối với tình trạng ô nhiễm, có 197 vị trí thuộc 46 nguồn nước sông, suối, kênh, rạch được xác định có ít nhất một vị trí ô nhiễm. Các vị trí này tập trung tại ba lưu vực sông chính.


Cụ thể, lưu vực sông Hồng - Thái Bình ghi nhận 38 vị trí thuộc 8 nguồn nước; lưu vực sông Đồng Nai có 142 vị trí thuộc 23 nguồn nước; lưu vực sông Cửu Long có 17 vị trí thuộc 15 nguồn nước. Kết quả cho thấy các vị trí ô nhiễm trong danh mục hiện tập trung chủ yếu tại lưu vực sông Đồng Nai, đồng thời xuất hiện ở các nguồn nước thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình và sông Cửu Long.


Đối với tình trạng suy thoái về chất lượng nước, kết quả tổng hợp xác định 23 nguồn nước với 28 đoạn, tổng chiều dài 639 km, tập trung tại ba lưu vực sông. Trong đó, lưu vực sông Hồng - Thái Bình có 10 đoạn thuộc 7 nguồn nước, tổng chiều dài 462 km; lưu vực sông Đồng Nai có 1 đoạn thuộc 1 nguồn nước, dài 26,9 km; lưu vực sông Cửu Long có 17 đoạn thuộc 15 nguồn nước, tổng chiều dài 150,1 km.


Theo đánh giá được trình bày, tình trạng suy thoái chất lượng nước chủ yếu gắn với áp lực từ các nguồn thải, hoạt động khai thác, sử dụng nước và điều kiện trao đổi, pha loãng nước hạn chế tại một số khu vực. Những kết quả này đặt ra yêu cầu tiếp tục làm rõ nguyên nhân theo từng đoạn sông, xác định các nguồn gây tác động và đánh giá mối liên hệ giữa hoạt động phát triển kinh tế - xã hội với diễn biến chất lượng nước.


Đối với tình trạng cạn kiệt, kết quả hiện tại chưa ghi nhận nguồn nước nào được phân loại ở mức “Cạn kiệt”. Tuy nhiên, một số nguồn nước được xác định ở mức “Có nguy cơ cạn kiệt” hoặc có dấu hiệu chịu ảnh hưởng của công trình điều tiết.


Kết quả này cho thấy việc đánh giá số lượng nước cần được tiếp tục theo dõi, cập nhật theo diễn biến dòng chảy, đặc biệt trong mùa kiệt và tại các khu vực có nhu cầu khai thác lớn. Việc chưa ghi nhận nguồn nước ở mức cạn kiệt không đồng nghĩa với việc không có rủi ro thiếu hụt nguồn nước; do đó, các nguồn có nguy cơ vẫn cần được quan trắc và đánh giá bổ sung để kịp thời phát hiện biến động.


Các số liệu và kết quả phân loại tại Hội thảo là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện danh mục, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý nhận diện khu vực cần ưu tiên kiểm soát nguồn thải, tăng cường giám sát chất lượng nước hoặc theo dõi khả năng đáp ứng về số lượng nước.


Hoàn thiện danh mục gắn với giải pháp quản lý và phục hồi nguồn nước


Phát biểu kết luận Hội thảo, TS. Nguyễn Ngọc Hà cho biết, nhiệm vụ đã hình thành cơ sở dữ liệu, kết quả phân loại, danh mục và bộ bản đồ các nguồn nước mặt bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt với tỷ lệ 1:100.000. Đây là những sản phẩm phục vụ công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước, hỗ trợ xác định nguồn nước ưu tiên và làm cơ sở xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi trong giai đoạn tiếp theo.


Để phát huy giá trị của kết quả điều tra, việc hoàn thiện danh mục cần gắn với yêu cầu xác định rõ tình trạng, vị trí, phạm vi và nguyên nhân tác động đối với từng nguồn nước. Đối với những nguồn nước đã có đủ cơ sở xác định tình trạng ô nhiễm hoặc suy thoái, cần tiếp tục rà soát các nguồn gây tác động theo từng đoạn sông, tập trung kiểm soát nguồn thải, tăng cường thu gom và xử lý nước thải; đồng thời xem xét các giải pháp duy trì dòng chảy, cải thiện khả năng trao đổi và tự làm sạch của nguồn nước.


Các giải pháp phục hồi cần được xây dựng cụ thể đối với từng nguồn nước hoặc đoạn nguồn nước đã được xác định rõ hiện trạng và có đủ căn cứ chuyên môn. Việc lựa chọn giải pháp cần căn cứ vào nguyên nhân, mức độ tác động, đặc điểm thủy văn và khả năng triển khai trong thực tế, bảo đảm phù hợp với điều kiện của từng lưu vực.


Đối với các nguồn nước mới được xác định có nguy cơ hoặc chưa đủ cơ sở kết luận, cần ưu tiên tăng cường quan trắc, theo dõi và hoàn thiện chuỗi số liệu trước khi xác định là đối tượng phục hồi trực tiếp. Mạng lưới quan trắc cần chú trọng các vị trí đầu, giữa và cuối đoạn nguồn nước, các khu vực phía trước và phía sau nơi tập trung nguồn thải; đồng thời tăng cường theo dõi trong mùa kiệt và những thời kỳ nhạy cảm về chất lượng, số lượng nước.


Một yêu cầu quan trọng khác là tiếp tục cập nhật, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý tài nguyên nước, môi trường, đơn vị quan trắc và địa phương. Kết quả phân loại cần được rà soát định kỳ khi có thêm số liệu mới, bảo đảm danh mục phản ánh sát trạng thái thực tế của nguồn nước và đáp ứng yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn.

DWRM

Nội dung trong tệp đính kèm

Ý Kiến

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thúc đẩy hợp tác nông nghiệp, môi trường với EU, Đan Mạch và Bỉ

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thúc đẩy hợp tác nông nghiệp, môi trường với EU, Đan Mạch và Bỉ

Bộ Nông nghiệp và Môi trường thúc đẩy hợp tác với EU, Đan Mạch và Bỉ về nông nghiệp bền vững, công nghệ sinh học, kinh tế biển xanh và chống khai thác IUU.
Sửa Luật Phòng, chống thiên tai phải tăng tính chủ động, quản trị rủi ro

Sửa Luật Phòng, chống thiên tai phải tăng tính chủ động, quản trị rủi ro

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu chính sách mới phải giải quyết dứt điểm các 'điểm nghẽn' về tổ chức thực hiện, quản trị rủi ro và tăng tính chủ động trong PCTT.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Xây dựng kịch bản cụ thể, chủ động ứng phó từng loại hình thiên tai

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Xây dựng kịch bản cụ thể, chủ động ứng phó từng loại hình thiên tai

Sáng 22/10, chủ trì cuộc họp về Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia giai đoạn 2026-2030, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu tập trung giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược, liên ngành, liên vùng; nhận diện đầy đủ nguy cơ, xây dựng kịch bản ứng phó cụ thể với từng loại hình thiên tai, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả khi triển khai thực hiện.