Sign In

Thủy điện thông minh và giải pháp mấu chốt giảm thiệt hại bão lũ

14:13 07/02/2026

Chọn cỡ chữ A a   chia sẻ facebook   chia sẻ zalo   chia sẻ zalo    

Tại Tọa đàm “Thủy điện và bài toán phát triển bền vững hậu bão lũ lịch sử” do Báo Tiền Phong tổ chức chiều 6/2 ở Đắk Lắk, ông Nguyễn Sanh Đương - Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Khánh Hòa - cho rằng, để giải quyết bài toán phát triển bền vững và bảo vệ an toàn hạ du cần một chiến lược chuyển đổi đồng bộ từ quy hoạch đến công nghệ vận hành, trong đó trọng tâm của giải pháp là việc triển khai phần mềm dự báo thông minh, đóng vai trò "bộ não" điều hành toàn hệ thống và mấu chốt để giảm thiểu thiệt hại nằm ở hệ thống thông tin cảnh báo sớm...

 

Việt Nam vừa trải qua một trong những năm thiên tai khốc liệt nhất

 

Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong:

 

Việt Nam vừa trải qua một trong những năm thiên tai khốc liệt nhất khi gần 3/4 diện tích cả nước hứng chịu mưa lũ lịch sử, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Thiên tai đã làm 468 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế ước gần 100.000 tỷ đồng. Thực tế đau xót này cho thấy tác động ngày càng rõ rệt của biến đổi khí hậu, với các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện dày hơn, mạnh hơn và khó dự báo hơn.
 

Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong.

Những trận mưa kỷ lục, lũ chồng lũ, bão mạnh trái quy luật đã đặt hệ thống hạ tầng phòng chống thiên tai, đặc biệt là các công trình thủy điện, trước những thách thức chưa từng có. Điều đó đòi hỏi phải thay đổi tư duy phát triển thủy điện theo hướng hài hòa hơn, lấy an toàn con người và hệ sinh thái làm ưu tiên hàng đầu. Quy trình vận hành hồ chứa cần được cập nhật linh hoạt theo các kịch bản khí hậu mới, tính đến những tình huống cực đoan nhất.

 

Bên cạnh đó, yêu cầu phối hợp liên ngành, liên vùng và minh bạch thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Việc chia sẻ dữ liệu dự báo, cảnh báo sớm và thông tin vận hành hồ chứa cần kịp thời, thống nhất, dễ tiếp cận để chính quyền và người dân hạ du chủ động ứng phó.

 

Xuất phát từ thực tiễn nói trên, tại Đắk Lắk - địa phương chịu thiệt hại nặng nề do mưa lũ vừa qua, Báo Tiền Phong tổ chức tọa đàm “Thủy điện và bài toán phát triển bền vững hậu bão lũ lịch sử”. Tọa đàm kỳ vọng trở thành diễn đàn đối thoại thẳng thắn, đa chiều, nơi các cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, người dân và báo chí cùng nhìn thẳng vào thực tế, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp, góp phần hướng tới phát triển thủy điện an toàn, bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
 

Thủy điện là "thủ phạm" gây lũ?

GS,TS. Nguyễn Quốc Dũng

Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến: Trong đợt mưa lũ lịch sử vừa qua, có nhiều thông tin trái chiều nhau liên quan đến vai trò của thuỷ điện? Trong đó có ý kiến cho rằng, có tình trạng lũ chồng lũ?

 

GS, TS. Nguyễn Quốc Dũng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam:

Dưới góc độ chuyên môn, thủy điện không phải là "vị cứu tinh" tuyệt đối nhưng chắc chắn không phải là "thủ phạm" gây lũ. Thực tế, hồ chứa là công cụ kỹ thuật chiến lược có khả năng cắt giảm từ 60-90% đỉnh lũ, tạo ra "giờ vàng" quý giá cho hạ du sơ tán. Hiện tượng "lũ chồng lũ" thường bị hiểu lầm, thực chất nó bắt nguồn từ các hình thái thiên tai cực đoan liên tiếp.
 

Khi hồ đã đầy, để bảo vệ an toàn đập, buộc phải vận hành xả lượng nước bằng lượng nước đổ về (Qxả=Qđến). Áp lực này khi cộng hưởng với đỉnh lũ sông nhánh và triều cường trong điều kiện lòng sông thoát lũ hạn chế sẽ khiến nước dâng nhanh. Để tối ưu hóa mặt tích cực, chúng ta cần chuyển dịch sang quản trị thông minh bằng cách minh bạch hóa dữ liệu qua hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) và quản lý rủi ro tổng thể toàn lưu vực thay vì chỉ tập trung vào thân đập.

 

Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến: Làm thế nào để hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, Doanh nghiệp và Người dân?

 

GS,TS. Nguyễn Quốc Dũng:

 

Để giải bài toán này, cần chuyển từ tư duy mệnh lệnh hành chính sang cơ chế "đối tác chia sẻ rủi ro" dựa trên 3 trụ cột.
 

Thứ nhất, lấy công nghệ làm "trọng tài" qua hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS) và bản đồ ngập lụt động để người dân giám sát trực tiếp, xóa bỏ nghi ngờ và chủ động ứng phó.

 

Thứ hai, xây dựng thể chế linh hoạt cho doanh nghiệp bằng cách cho phép hạ mực nước hồ đón lũ sớm trước 72 giờ để giảm sốc lũ cho hạ du, đồng thời áp dụng cơ chế "tích nước bù" để đảm bảo kinh tế cho hồ chứa.
 

Thứ ba, Nhà nước cần đóng vai trò điều tiết hạ tầng thông qua việc nạo vét luồng lạch cửa sông và thúc đẩy bảo hiểm rủi ro thiên tai. Sự hài hòa chỉ đạt được khi doanh nghiệp coi cắt lũ là trách nhiệm lâu dài, người dân tin tưởng hồ chứa là "lá chắn" và Nhà nước dùng công nghệ để điều phối công bằng.

 

Vai trò quan trọng của hồ chứa thượng lưu
 

Ông Nguyễn Tài Sơn - Phụ trách Ban An toàn đập, Hội Đập lớn Việt Nam:

 

Tổng lượng tài nguyên nước của Việt Nam ước khoảng 804 tỷ m³/năm, song phân bố rất không đều theo thời gian và không gian. Riêng 3 tháng mùa mưa chiếm hơn 72% tổng lượng nước, trong khi 9 tháng mùa khô chỉ còn khoảng 27%. Sự chênh lệch lớn này là lý do phải hình thành hệ thống hồ chứa để điều tiết nguồn nước.
 

Bên cạnh đó, tài nguyên nước cũng phân bố không đồng đều theo không gian: Có nơi thừa nước, có nơi thiếu nước, buộc phải tính toán bài toán trữ nước, điều tiết và phân phối liên vùng. Đặc biệt, miền Trung có đặc điểm địa hình dải đất hẹp, dốc, sông ngắn và độ dốc lớn. Muốn khai thác hiệu quả dòng chảy, quy hoạch nguồn nước phải dựa trên tổng thể địa hình, địa chất và coi tài nguyên nước là tài sản chung, phục vụ hài hòa các mục tiêu thủy điện, thủy lợi, giao thông, môi trường.

 

Ở miền Bắc, điều kiện địa hình cho phép xây dựng các hồ chứa lớn với dung tích cao, nên khả năng chống lũ tốt hơn. Ngược lại, miền Trung và Tây Nguyên rất khó tìm được không gian và diện tích để xây dựng hồ lớn nên hệ thống hồ chứa được xây dựng chủ yếu là nhỏ và vừa.

 

Trong đợt lũ vừa qua, lưu vực sông Ba có 11 bậc thang thủy điện, trong đó 5 công trình có hồ chứa tương đối lớn gồm: Krông H’năng, Sông Hinh, Ayun Hạ và Ka Nak. Khi lũ vượt quá khả năng thiết kế, việc vận hành hồ là bài toán rất khó khăn. Tuy nhiên, các hồ chứa này không hề vô dụng: Có 3 công trình đã tham gia cắt lũ, với tổng lưu lượng cắt được hơn 2.000 m³/giây.

 

Theo nghiên cứu, nếu không có các hồ chứa thượng lưu, lưu lượng đỉnh lũ trên sông Ba có thể vượt 18.000 m³/giây, gây hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều.
 

Tỉnh Đắk Lắk có 25 thủy điện
 

Ông Trương Việt Bình - Phó trưởng Phòng Quản lý năng lượng, Sở Công thương Đắk Lắk.

Ông Trương Việt Bình - Phó trưởng Phòng Quản lý năng lượng, Sở Công Thương Đắk Lắk:

 

Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk hiện có 25 công trình thủy điện, trong đó 3 thủy điện thuộc lưu vực sông Ba. Các công trình thủy điện trên lưu vực sông Ba, vào mùa mưa được vận hành theo nguyên tắc ưu tiên an toàn công trình, góp phần giảm lũ cho hạ du, đảm bảo hiệu quả cấp nước, phát điện và dòng chảy tối thiểu trên lưu vực sông. Vào mùa cạn, việc vận hành theo nguyên tắc bảo đảm an toàn công trình, đảm bảo nhu cầu sử dụng nước ở hạ du và dòng chảy tối thiểu, đảm bảo hiệu quả cấp điện.
 

Thủy điện Sông Ba Hạ nằm trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, do đó hằng năm Cục kỹ thuật an toàn môi trường - Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các chuyên gia, đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, đánh giá an toàn hồ đập thuỷ điện trước mùa mưa bão.

 

Sau đợt mưa lũ vừa qua, thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Công Thương đã tiến hành kiểm tra tình hình vận hành các công trình thủy điện trên lưu vực sông Ba. Qua kiểm tra, các nhà máy thủy điện báo cáo đã thực hiện đúng quy trình vận hành hồ chứa, chấp hành nghiêm các chỉ đạo lệnh vận hành trong suốt quá trình xảy ra lũ.
 

Lưu ý việc sử dụng thông tin dự báo
 

Ông Hoàng Văn Đại - Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia:

 

Chúng tôi cho rằng mưa lũ năm 2025 không chỉ là các sự kiện cực đoan đơn lẻ, mà phản ánh một xu thế khí hậu mới, trong đó những giá trị từng được coi là hiếm đang dần trở thành phổ biến hơn. Đây là biểu hiện rất rõ của tác động của biến đổi khí hậu, với đặc trưng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn, không gian hẹp, gây lũ lớn và lũ lịch sử trên nhiều lưu vực.
 

Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm, chủ động thích ứng với các kịch bản mưa lũ cực đoan vượt ngưỡng lịch sử là yêu cầu hết sức cấp thiết nhằm giảm thiểu rủi ro và thiệt hại trong thời gian tới.

 

Việc sử dụng thông tin dự báo cần hết sức lưu ý: Thời hạn dự báo càng gần càng chính xác; cảnh báo từ sớm, từ xa để sẵn sàng phương án phòng ngừa, ứng phó; thường xuyên cập nhật thông tin dự báo để vận hành, ứng phó…
 

Chủ động sơ tán từ sớm
 

Ông Nguyễn Xuân Tùng - Phó trưởng Phòng Ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, Cục Quản lý thiên tai và phòng chống đê điều, Bộ Nông nghiệp và Môi trường:

 

Trong hai năm liên tiếp, nhiều vùng miền trên cả nước đã phải đối mặt với thiên tai cực đoan, xuất hiện những trận mưa lịch sử dẫn đến lũ lịch sử. Riêng năm 2025, lượng mưa nhiều nơi đo được đạt mức kỷ lục. 

 

Tại Gia Lai, Đắk Lắk và nhiều khu vực cũng ghi nhận giá trị mưa vượt lịch sử, khiến lưu lượng nước đổ về các hồ chứa tăng đột biến, vượt xa mức tính toán trong thiết kế.
 

Thực tế này cho thấy tính cực đoan, bất thường và khó lường của thiên tai, với hiện tượng “lũ chồng lũ” trong thời gian ngắn, gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác ứng phó. Trong khi đó, công tác dự báo mưa lũ còn sai số, làm gia tăng thách thức trong vận hành hồ chứa. Thời gian lũ đến nhanh, trong khi năng lực các hồ chứa có hạn, tổng dung tích chỉ chiếm một phần nhỏ so với lưu lượng lũ đổ về. Điển hình như hồ chứa sông Ba Hạ, dung tích hồ không đủ khả năng tích nước khi lũ lớn xảy ra, dẫn đến áp lực rất lớn trong công tác điều tiết.

 

Đối với những trận lũ lớn như năm 2025, chúng ta cần có phương án ứng phó cụ thể, để từ đó chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở phải chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân. Trọng tâm là sơ tán dân kịp thời, xác định rõ các vị trí nhà cao, nhà cộng đồng, trụ sở cơ quan và nghiên cứu xây dựng nhà tránh lũ tại các khu vực xung yếu.
 

Đề xuất mô hình tính toán bằng AI
 

Ông Nguyễn An Phú - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk:

 

Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, chúng tôi đã tham mưu các văn bản chỉ đạo gửi Tỉnh uỷ, UBND tỉnh triển khai về địa phương về phòng chống bão lũ.
 

Nguyên nhân khó khăn, theo tôi có một số nội dung như năng lực hồ chứa của địa phương còn nhỏ, trong khi lượng mưa lớn và cao tốc Bắc - Nam làm đê chặn dòng chảy. Đặc biệt bất lợi khi trong tháng 11/2025 triều cường diễn ra từ 20-21h khi lượng mưa đang lớn.

 

Địa phương đề xuất Trung ương sớm nghiên cứu quy trình vận hành hồ chứa, đầu tư hệ thống quan trắc, mô hình tính toán AI để chính xác hơn. Ngoài ra, phải sớm xây dựng chế độ vận hành nghiêm ngặt; sớm kiểm soát, điều hành chặt chẽ vì sông đi qua nhiều tỉnh, thành. Không những vậy, các chủ hồ chứa cần cập nhật tình hình phòng chống thiên tai và phải có chế tài với các chủ hồ chứa.
 

Tuyệt đối không được chủ quan trước mỗi mùa mưa lũ
 

Bà Trần Thị Thu Hằng trao đổi tại tọa đàm.

Bà Trần Thị Thu Hằng - Trưởng phòng Lưu vực sông Hồng - Thái Bình, Cục Quản lý Tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường:

 

Việc xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa (QTVHLHC) được thực hiện khi hầu hết các công trình hồ chứa lớn, quan trọng đã xây dựng (các hồ thủy điện hầu hết không quy định dung tích phòng lũ). Với nguyên tắc ưu tiên hàng đầu là an toàn công trình, cắt, giảm lũ cho hạ du, tích nước để cấp nước cho các nhu cầu trong mùa cạn.

 

Trong số 134 hồ chứa, đập dâng trên 11 lưu vực sông (trên hơn 600 hồ thủy điện, 7000 hồ thủy lợi) được điều tiết theo cơ chế liên hồ, chỉ có 40 hồ chứa lớn dành dung tích tham gia cắt, giảm lũ cho hạ du. Tổng dung tích cắt giảm lũ các hồ thuộc 6 QTVH LHC khu vực miền Trung (Cả, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, Ba) khoảng 2,15 tỷ m3. Do đó, chỉ có thể phòng lũ.

 

Trong đợt lũ từ ngày 16/11-21/11/2025 trên lưu vực sông Ba, với tổ hợp chập của mưa, lũ kép, triều cường thì tổng lượng lũ về hồ sông Ba Hạ khoảng 3 tỷ m3, trong khi khả năng điều tiết lũ tối đa là 165 triệu m3 (khoảng 5,5%). Như vây, QTVH LHC đã dành một phần dung tích của hồ chứa (từ 259 đến 531 triệu m3) để tham gia giảm lũ cho hạ du sông Ba phù hợp với quyết định 1588/QĐ-TTg. Cần củng cố hệ thống đê sông Ba và đê biển, nạo vét, khơi thông dòng chảy để tăng khả năng thoát lũ của các sông.

 

Cục Quản lý Tài nguyên nước đang rà soát và điều chỉnh các QTVHLHC trên cả nước; đồng thời đẩy nhanh xây dựng hệ thống hỗ trợ vận hành hồ chứa (khoản 5 Điều 38 Luật Tài nguyên nước) trên nền tảng số, tích hợp các mô hình toán để hỗ trợ ra quyết định.

 

Quan trọng nhất là chính quyền, người dân tuyệt đối không được chủ quan trước mỗi mùa mưa lũ. Cần chủ động học hỏi kinh nghiệm, tổ chức diễn tập thực tế và trang bị đầy đủ công cụ, phương tiện cứu hộ. Chỉ khi người dân được thông tin kịp thời và có nhận thức đúng đắn chúng ta mới có thể chủ động thích ứng và giảm thiểu rủi ro trước những diễn biến cực đoan của thời tiết.
 

Ba nhóm giải pháp trọng tâm
 

Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến - Phó Tổng Biên tập Báo Tiền Phong:

 

Qua tọa đàm hôm nay, ban tổ chức được lắng nghe rất nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp. Từ đó, những nguy cơ hiện hữu đã được nhận diện rõ ràng, chúng ta cần có các giải pháp đồng bộ, chủ động và dài hạn.

 

Thay mặt Ban Biên tập Báo Tiền Phong, tôi trân trọng cảm ơn các chuyên gia, lãnh đạo sở ban ngành các địa phương cùng đại diện các doanh nghiệp đã có những tham luận, phát biểu chất lượng, đóng góp thiết thực cho hội thảo. Trên cơ sở các ý kiến trên, Biên Biên tập Báo Tiền Phong sẽ tổng hợp đầy đủ nội dung tọa đàm, đồng thời xây dựng báo cáo gửi tới các cơ quan liên quan làm tài liệu tham khảo trong công tác chỉ đạo, điều hành.
 

Sau mỗi mùa bão lũ, chúng ta chỉ rút kinh nghiệm mà không có giải pháp cụ thể, không chủ động nâng cao năng lực dự báo, năng lực tiếp cận và chia sẻ thông tin thì nguy cơ tái diễn những mất mát, thiệt hại nặng nề là điều khó tránh khỏi. Thực tế tác nghiệp tại vùng lũ cho thấy, nhiều thời điểm nước dâng rất nhanh, mất liên lạc, công tác cứu hộ gặp vô vàn khó khăn; có nơi người dân phải nằm sát trần nhà trong thời gian dài mới tiếp cận được cứu trợ.

 

Tôi cho rằng có 3 nhóm giải pháp trọng tâm mà chuyên gia đưa ra trong toạ đàm gồm: Thứ nhất, nâng cao năng lực dự báo, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số để xây dựng hệ thống dữ liệu đủ tin cậy, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong bối cảnh biến đổi khí hậu khắc nghiệt. Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng linh hoạt, tăng quyền chủ động cho Chủ tịch UBND tỉnh trong xử lý các tình huống thiên tai bất thường. Thứ ba, Nhà nước phát huy vai trò kiến tạo, dẫn dắt, đồng thời làm rõ cơ chế hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

 

Ngoài ra, công tác quy hoạch, vận hành hồ chứa cần phù hợp với đặc thù miền Trung, với địa hình dốc, nhiều thủy điện nhỏ, bảo đảm mục tiêu cao nhất là an toàn công trình và cắt, giảm lũ cho hạ du.

 

 

 

tienphong.vn

Nội dung trong tệp đính kèm

Ý Kiến

Hoàn thành đợt 2 lấy nước sản xuất vụ Đông Xuân

Theo báo cáo của Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến hết đợt 2 lấy nước (ngày 4/2), tổng diện tích đã được cấp nước phục vụ gieo cấy lúa vụ Đông Xuân 2025–2026 tại khu vực Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ đạt 437.010 ha/481.464 ha, tương đương 90,8% diện tích gieo cấy theo kế hoạch.
Ban hành Văn bản hợp nhất Nghị định quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

Ban hành Văn bản hợp nhất Nghị định quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước

Ngày 2/2, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp đã kí Văn bản số 07/VBHN-BNNMT về việc Văn bản hợp nhất Nghị định quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
Ban hành văn bản hợp nhất Nghị định Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước

Ban hành văn bản hợp nhất Nghị định Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước

Ngày 02/02/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ký ban hành Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BNNMT Nghị định Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.