Sign In

Lâm Đồng: Tăng cường quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước trong bối cảnh biến động khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững

08:00 03/02/2026

Chọn cỡ chữ A a   chia sẻ facebook   chia sẻ zalo   chia sẻ zalo    

Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng vừa có báo cáo gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường về tình hình khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh trong năm 2025. Báo cáo cho thấy, mặc dù chịu tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công tác bảo đảm an ninh nguồn nước trên địa bàn tỉnh cơ bản được duy trì ổn định, song vẫn còn nhiều thách thức đặt ra, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành và sự hỗ trợ kịp thời từ Trung ương.

 

Diễn biến thủy văn: Khô hạn cục bộ, lũ lớn và lũ lịch sử


Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường, mùa khô năm 2024 -2025 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng diễn ra trong điều kiện thời tiết khô hạn kéo dài, tuy nhiên mức độ không quá nghiêm trọng và chủ yếu xảy ra cục bộ trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 4/2025. Mực nước trên các sông, suối nhìn chung có xu hướng giảm dần theo thời gian, có những thời điểm mực nước gần như không biến động.


So với trung bình nhiều năm, dòng chảy trung bình tháng trên các sông phổ biến ở mức xấp xỉ đến cao hơn từ 5-75%. Riêng sông Đắk Nông, tại trạm Đắk Nông, dòng chảy cao hơn trung bình nhiều năm từ 200-600%, chủ yếu do ảnh hưởng của các công trình đang thi công. Trong khi đó, trên sông Krông Nô, tại trạm Đức Xuyên, dòng chảy thấp hơn trung bình từ 20-65% do tác động điều tiết của các hồ thủy điện. Dòng chảy thấp năm xuất hiện tập trung trong các tháng từ 2 đến tháng 5/2025.


Bước vào mùa lũ, mực nước trên các sông, suối trong tỉnh tăng nhanh và biến động mạnh. Trong toàn vụ, trên các sông lớn như sông Đa Nhim, sông Đồng Nai, sông Lũy và sông La Ngà đã ghi nhận 22 trận lũ, trong đó có nhiều đợt lũ lớn. Đáng chú ý, tại trạm Sông Lũy và trạm Đại Ninh trên sông Đa Nhim đã xuất hiện lũ đặc biệt lớn, được xác định là lũ lịch sử.


Trên các sông, suối nhỏ như Cam Ly, Đắk Nông, Cà Ty…, toàn tỉnh ghi nhận trên 30 trận lũ với đỉnh lũ từ báo động I đến trên báo động III, tập trung chủ yếu trong các tháng 6 đến 11 và tuần đầu tháng 12. Riêng sông Cam Ly, tại trạm Thanh Bình, đã xuất hiện lũ đặc biệt lớn với đỉnh lũ đạt 834,36 m, cao hơn đỉnh lũ lịch sử năm 2019 khoảng 0,11 m.


Hậu quả của các đợt mưa lũ gây ra tình trạng lũ quét, sạt lở tại một số khu vực đèo, tuyến giao thông trọng điểm, làm thiệt hại đáng kể đến tài sản của Nhà nước và Nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống dân sinh và hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt trong giai đoạn từ tháng 10 đến đầu tháng 12/2025.


Đến tuần cuối tháng 12/2025, mực nước tại các hồ thủy điện lớn trên địa bàn tỉnh như Đơn Dương, Đại Ninh, Đồng Nai 2, Đồng Nai 3, 4, 5, Buôn Kuôp, Buôn Tua Srah… đều ở mức xấp xỉ mực nước dâng bình thường, bảo đảm yêu cầu vận hành phát điện và cấp nước hạ du.


Toàn tỉnh hiện có 956 công trình thủy lợi và hệ thống công trình các loại đang được khai thác, với tổng dung tích khoảng 811,667 triệu m³. Các công trình này đáp ứng nhu cầu tưới cho diện tích thiết kế hơn 157.500 ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có khoảng 8.371 ha mặt nước phục vụ nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó, hệ thống thủy lợi còn đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp với tổng lưu lượng trên 287.000 m³/ngày đêm.


Năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt khoảng 73,45% diện tích cần tưới. Trong đó, diện tích được tưới từ các công trình thủy lợi tập trung đạt hơn 150.000 ha, diện tích áp dụng các phương pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt hơn 97.000 ha. Đây được xem là kết quả tích cực trong bối cảnh nguồn nước chịu nhiều sức ép từ biến đổi khí hậu và nhu cầu phát triển sản xuất ngày càng gia tăng.

 


Bảo đảm nước sinh hoạt cho đô thị và nông thôn


Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 19 công trình cấp nước sinh hoạt đô thị, với tổng công suất thiết kế hơn 187.000 m³/ngày đêm, trong đó hơn 90% nguồn nước được khai thác từ nước mặt. Trong mùa khô năm 2025, một số thời điểm cao điểm đã xảy ra tình trạng thiếu nước cục bộ tại một số phường như Mũi Né, Bắc Gia Nghĩa và Phước Hội, nhất là trong các dịp lễ, Tết khi nhu cầu sử dụng nước tăng đột biến.


Ở khu vực nông thôn, toàn tỉnh có 646 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, trong đó 624 công trình thuộc Chương trình nước sạch nông thôn, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của hơn 186.000 hộ dân. Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 97,64%, trong khi tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt 57,41%. Trong số đó, hơn 34% hộ được cấp nước sạch từ các công trình tập trung, còn lại sử dụng các công trình cấp nước nhỏ lẻ.


Mặc dù công tác chuẩn bị và điều tiết nguồn nước được triển khai khá chủ động, song trong những tháng cao điểm mùa khô, một số địa bàn như Hàm Thắng, Cát Tiên 3, Nghị Đức, Đức An, Đơn Dương… vẫn xảy ra tình trạng thiếu nước cục bộ, gây khó khăn cho sinh hoạt và sản xuất của người dân.


Nước cho công nghiệp và năng lượng


Lâm Đồng hiện có 15 khu công nghiệp, trong đó 7 khu đang hoạt động, thu hút 163 dự án đầu tư. Nguồn nước phục vụ sản xuất công nghiệp chủ yếu được cấp từ các hệ thống cấp nước tập trung, kết hợp với một số công trình khai thác nước mặt và nước dưới đất.


Toàn tỉnh có 63 công trình khai thác tài nguyên nước phục vụ sản xuất công nghiệp được cấp phép, với tổng lưu lượng gần 66.000 m³/ngày đêm. Trong đó, 9 công trình khai thác nước mặt với tổng lưu lượng gần 60.000 m³/ngày đêm và 54 công trình khai thác nước dưới đất với tổng lưu lượng hơn 6.100 m³/ngày đêm.


Về thủy điện, tỉnh có 66 công trình đang hoạt động, với tổng công suất lắp máy hơn 3.000 MW, diện tích hồ chứa gần 9.500 ha và tổng dung tích toàn bộ hơn 21.000 triệu m³. Ngoài nhiệm vụ phát điện, nhiều hồ thủy điện còn tham gia cấp nước sinh hoạt và phục vụ các hoạt động kinh tế khác, trong đó có sản xuất điện mặt trời nổi. Bên cạnh đó, trên địa bàn còn có 3 công trình nhiệt điện sử dụng nước biển cho mục đích làm mát, với tổng lưu lượng hơn 885.000 m³/ngày đêm.


Ô nhiễm nguồn nước và nguy cơ xâm nhập mặn


Báo cáo cũng chỉ rõ tình trạng ô nhiễm nguồn nước đã xuất hiện tại một số khu vực, tập trung ở các hồ chứa thủy lợi thuộc địa bàn tỉnh Bình Thuận cũ, đoạn sông Cam Ly qua phường Cam Ly (Đà Lạt) và hồ Xuân Hương. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do nước thải sinh hoạt từ khu dân cư, đô thị, hoạt động chăn nuôi, cũng như việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp.
Tại đặc khu Phú Quý, tình trạng nhiễm mặn và nhiễm phèn ở các giếng khoan đã gây thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân trên đảo.


Sau sáp nhập, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang tiến hành rà soát, đánh giá hiện trạng tài nguyên nước và xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất trên toàn tỉnh. Công tác này bao gồm việc lập danh mục hồ, ao, đầm không được san lấp, danh mục nguồn nước nội tỉnh, các nguồn nước phải lập hành lang bảo vệ, cũng như rà soát chức năng nguồn nước và phương án khai thác, sử dụng, bảo vệ trong quy hoạch tỉnh. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện còn phụ thuộc vào việc điều chỉnh quy hoạch tỉnh, dẫn đến nhiều nội dung chưa thể hoàn thành đúng kế hoạch.


Đối với công tác kiểm kê nguồn nước mặt nội tỉnh theo Đề án của Thủ tướng Chính phủ, hiện nay kết quả kiểm kê của các tỉnh trước sáp nhập đang được triển khai độc lập và có tiến độ không đồng đều. Riêng địa bàn tỉnh Đắk Nông cũ phải thực hiện kiểm kê đến hết mùa mưa năm 2026, khiến việc tổng hợp báo cáo chung toàn tỉnh Lâm Đồng khó đáp ứng thời hạn 30/6/2026 theo yêu cầu.


Một vấn đề nổi cộm khác là tình trạng sạt lở nghiêm trọng trên sông Krông Nô, đoạn giáp ranh giữa tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk, với tổng chiều dài gần 10 km. Sạt lở đang đe dọa trực tiếp đến đất sản xuất, nhà ở của người dân, hệ thống giao thông, điện và các công trình thủy lợi ven sông, đòi hỏi phải có giải pháp bảo vệ, phòng chống tổng thể và lâu dài.


Bên cạnh đó, công tác đăng ký, cấp phép đối với các công trình khai thác, sử dụng nước còn gặp nhiều khó khăn do số lượng công trình lớn, địa bàn rộng và quy định pháp luật còn thiếu hướng dẫn cụ thể, đặc biệt đối với các công trình đã xây dựng trước ngày 1/7/2024.


Để nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm ban hành danh mục lưu vực sông, danh mục nguồn nước làm căn cứ cho việc điều chỉnh chức năng và xây dựng phương án khai thác, sử dụng, bảo vệ nguồn nước trong quy hoạch tỉnh.


Đồng thời, đề xuất gia hạn thời gian hoàn thành công tác kiểm kê và tổng hợp nguồn nước nội tỉnh đến tháng 12/2026, phù hợp với thực tế triển khai tại các địa bàn sau sáp nhập.


Đối với sông Krông Nô, địa phương kiến nghị Bộ chỉ đạo Cục Quản lý tài nguyên nước sớm triển khai các dự án điều tra, đánh giá và giám sát diễn biến dòng chảy, bồi lắng và sạt lở ngay trong năm 2026, nhằm kịp thời đề xuất giải pháp bảo vệ an toàn cho người dân và hạ tầng ven sông.


Ngoài ra, tỉnh cũng đề nghị hoàn thiện hướng dẫn liên quan đến việc đăng ký các công trình đào, cải tạo lòng sông, suối, hồ, kênh, mương nhằm tạo không gian trữ nước, cảnh quan và nuôi trồng thủy sản; đồng thời xem xét bổ sung yêu cầu về tọa độ, hồ sơ đất đai để nâng cao hiệu quả kiểm tra, quản lý.


Với những kết quả đạt được và các giải pháp đang triển khai, tỉnh Lâm Đồng đặt mục tiêu tiếp tục tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo hướng bền vững, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, từng bước củng cố an ninh nguồn nước, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

DWRM

Nội dung trong tệp đính kèm

Ý Kiến

Chủ động từ sớm, từ xa để đảm bảo an ninh nguồn nước

Chủ động từ sớm, từ xa để đảm bảo an ninh nguồn nước

Triển khai hiệu quả Luật Tài nguyên nước năm 2023, Đà Nẵng chuyển sang quản lý tài nguyên nước chủ động từ sớm, từ xa, hình thành hệ thống quản trị nguồn nước bền vững.

Sẵn sàng bổ cập nước sông Hồng 'cứu' sông Tô Lịch

Đại diện Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật và nông nghiệp Hà Nội cho biết, nhiều hạng mục quan trọng của dự án cải tạo tuyến kênh Thụy Phương dự kiến sẽ hoàn thành trước ngày 31/5, tạo điều kiện bổ cập nước từ sông Hồng vào sông Tô Lịch và cải thiện tình trạng ngập úng khu vực phía Bắc Thủ đô.

Cần Thơ ứng phó xâm nhập mặn bằng quản lý nước thông minh

Trước thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn, thành phố Cần Thơ đưa ra các giải pháp nhằm phấn đấu trên 85% cư dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt chuẩn vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, thành phố đang chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình quản lý nước thông minh và bền vững.