Trong khuôn khổ chương trình Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV sáng 29/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc trình bày chuyên đề “Kết luận số 75-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới”. Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến chất lượng phát triển đất nước, sức khỏe, tính mạng, tài sản và sinh kế của Nhân dân; đồng thời tác động sâu sắc đến năng lực cạnh tranh, khả năng tự chủ và vị thế quốc tế của Việt Nam trong những thập niên tới.
Trình bày chuyên đề, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết, đánh giá 13 năm thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW "Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường", Trung ương đã khẳng định tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết và những kết quả quan trọng đã đạt được, đồng thời cũng chỉ rõ những tồn tại, hạn chế và bài học kinh nghiệm. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Kết luận số 75-KL/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Kết luận này đã kế thừa những chủ trương còn giá trị và phát triển những chủ trương, quyết sách lớn với tư duy đột phá, tầm nhìn xa để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thời kỳ mới.
Toàn cảnh Hội nghịTại Hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã thông tin quán triệt về 05 quan điểm chỉ đạo, mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và 09 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về bảo vệ môi trường tại tại Kết luận số 75-KL/TW.
05 quan điểm chỉ đạo và chuyển dịch tư duy tại Kết luận số 75-KL/TW
Một là, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới; là nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh, là một động lực phát triển mới của nền kinh tế.
Hai là, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, của tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng, dân cư và của mỗi người dân. Đặt con người và chất lượng cuộc sống của nhân dân ở trung tâm của mọi quyết định phát triển, phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, cộng đồng và mỗi người dân.
Ba là, quy hoạch định hướng phát triển phải trong giới hạn sinh thái, khả năng chịu tải của môi trường; chuyển từ tư duy ứng phó sang kiến tạo phát triển; từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro; tiếp cận quản lý tổng hợp liên ngành, liên vùng.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc trình bày chuyên đề Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mớiBốn là, chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung khắc phục, xử lý những vấn đề bức xúc, điểm nóng về môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên; đẩy nhanh chuyển đổi số xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động phòng chống thiên tai.
Năm là, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam chủ động, tích cực tham gia có trách nhiệm và định hình các sáng kiến, các thỏa thuận và cơ chế hợp tác khu vực, toàn cầu nhằm nâng cao vai trò, vị thế quốc gia trong giải quyết những vấn đề toàn cầu.
Mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn chiến lược đến năm 2045
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết, Trung ương đã thảo luận và xác định mục tiêu từng giai đoạn, đảm bảo thống nhất với hai mục tiêu 100 năm và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, phù hợp với mô hình phát triển Việt Nam.
Theo đó, mục tiêu đến năm 2030 là: Năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai được nâng cao; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, sinh kế của nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm đô thị, lưu vực sông, khu, cụm công nghiệp, làng nghề phải được tập trung xử lý, phục hồi. Chất lượng môi trường sống của nhân dân được cải thiện thực chất; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn phải được kiểm soát chặt chẽ; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, cacbon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an ninh môi trường và phát triển nhanh, bền vững.
Tầm nhìn đến năm 2045 là: Việt Nam hướng tới có một môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu; kinh tế xanh, tuần hoàn, cacbon thấp là những phương thức phát triển chủ đạo. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cũng cho biết, Trung ương đã xác định các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn từ 2026 đến 2030 bao phủ toàn diện cả về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các chỉ tiêu này tập trung vào những cam kết then chốt như: Đảm bảo mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; kiểm soát nghiêm ngặt nguồn thải với yêu cầu quan trắc tự động 100% nguồn nước, khí thải lớn và xử lý nước thải đạt quy chuẩn tại tất cả các cụm công nghiệp.
Lượng hóa chi tiết các mục tiêu nâng cao chất lượng môi trường sống: Tối thiểu 80% số ngày không khí tốt và trung bình tại đô thị đặc biệt; tỉ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 95% ở đô thị và 85% ở nông thôn. Bảo tồn đa dạng sinh học, đảm bảo an toàn dân cư trước thiên tai và đẩy mạnh chuyển đổi xanh với tỉ trọng kinh tế đạt 10% GDP, tỉ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%; cam kết giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 9%.
”Những chỉ tiêu định lượng cụ thể này thể hiện tư duy quản trị hiện đại, là căn cứ bắt buộc để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, phân bổ nguồn lực và đánh giá thực chất hiệu quả thực hiện”, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh.
09 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về bảo vệ môi trường
Để hiện thực hóa các mục tiêu, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết Trung ương đã xác định 09 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm:
Thứ nhất là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội, lan tỏa lối sống xanh, tiêu dùng bền vững, xây dựng ý thức tự giác, văn hóa môi trường.
Hai là hoàn thiện thể chế, siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực thực thi. Trong đó: Khẩn trương hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường và pháp luật có liên quan, đảm bảo đồng bộ, thống nhất; nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai. Tập trung đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, kết hợp giữa tiền kiểm và tăng cường hậu kiểm; quy định rõ trách nhiệm của các cấp, từng cơ quan; lấy kết quả thực hiện mục tiêu môi trường là một tiêu chí đánh giá. Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm đảm bảo đủ sức răn đe; tăng cường hướng dẫn, đối thoại, hỗ trợ doanh nghiệp phòng ngừa sai sót và tuân thủ đúng pháp luật.
Ba là huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực: Ngân sách nhà nước bố trí tối thiểu 2% tổng chi hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, đảm bảo giữ vững vai trò dẫn dắt; huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, nguồn vốn quốc tế, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn tài chính xanh; hoàn thiện cơ chế, chính sách sử dụng đảm bảo linh hoạt.
Quang cảnh Hội nghịBốn là giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, kiểm soát chặt nguồn ô nhiễm. Theo đó, Thứ nhất, tập trung giải quyết ô nhiễm không khí tại các đô thị đặc biệt; ô nhiễm tại các lưu vực sông, kênh mương, hồ, làng nghề, cụm công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản, tồn dư hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật. Thứ hai, đầu tư hạ tầng, thúc đẩy phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; giảm mạnh tỉ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt. Thứ ba, các nguồn phát sinh nước thải, khí thải lớn phải được giám sát tự động, liên tục, không để phát sinh các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng.
Năm là bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên: Hiện đại hóa quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên gắn với chuyển đổi số; thực hiện các giải pháp dựa vào tự nhiên, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng.
Sáu là chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai bao gồm: Thứ nhất, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch và xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai phù hợp với địa phương. Thứ hai, chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng chống chịu với thiên tai và biến đổi khí hậu; tập trung giải quyết ngập úng tại các đô thị, nhất là các đô thị lớn; phát triển đô thị chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thứ ba, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm; quy hoạch di dời người dân khỏi khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở và đảm bảo sinh kế bền vững tại nơi ở mới.
Bảy là đẩy mạnh chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và quản lý phát thải khí nhà kính. Cụ thể: Thứ nhất, chuyển đổi các ngành kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn và cacbon thấp; phát triển các ngành kinh tế mới, công nghiệp tái chế; phát triển giao thông xanh, đô thị xanh, thúc đẩy tuần hoàn vật liệu và sản phẩm trong toàn chuỗi giá trị. Thứ hai, đảm bảo công bằng, đào tạo chuyển đổi nghề và hỗ trợ sinh kế cho người lao động, nhóm dễ bị tổn thương. Thứ ba, hoàn thiện các quy định đo lường, thẩm định phát thải khí nhà kính theo tiêu chuẩn quốc tế; quản lý chặt chẽ hoạt động trao đổi tín chỉ cacbon và xây dựng các tiêu chuẩn tín chỉ cacbon trong nước.
Tám là phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực, trong đó: Thứ nhất, ưu tiên nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng các công nghệ quan trắc, dự báo, cảnh báo, công nghệ sạch, tái chế, xử lý chất thải, giảm phát thải, thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng cacbon. Thứ hai, tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về môi trường và biến đổi khí hậu thống nhất, đồng bộ, tích hợp và liên thông phục vụ chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và công khai thông tin. Thứ ba, tăng cường năng lực cho cán bộ quản lý môi trường, nhất là cán bộ cấp xã; xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành; thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp; có chính sách đãi ngộ thỏa đáng.
Chín là đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế. Theo đó, chủ động tham gia định hình các sáng kiến, thỏa thuận và cơ chế hợp tác khu vực, toàn cầu về môi trường và khí hậu; tăng cường ngoại giao môi trường, ngoại giao khí hậu; Đồng thời tăng cường hợp tác xử lý các vấn đề môi trường xuyên biên giới, quản lý tài nguyên nước, phòng chống thiên tai và đảm bảo an ninh môi trường, an ninh khí hậu.
Về tổ chức thực hiện, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cũng cho biết Kết luận số 75-KL/TW đã phân công rõ trách nhiệm cho các cơ quan Trung ương, các bộ, ngành, địa phương trong triển khai thực hiện. Trên tinh thần Kết luận, Chính phủ đang khẩn trương xây dựng chương trình hành động thể chế hóa chủ trương, lồng ghép tích hợp yêu cầu về bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, huy động và bố trí nguồn lực, kiểm tra, giám sát tiến độ, chất lượng thực hiện.
“Tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các địa phương cùng sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, các quyết sách quan trọng sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần khơi thông mọi nguồn lực, tạo bước phát triển mới của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới”, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc bày tỏ tin tưởng.