Quảng Ngãi là tỉnh nằm trên lưu vực sông Trà Khúc có diện tích tự nhiên là 14832,55km2.
Nguồn nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được phân bố chủ yếu trong các tầng chứa nước gồm: tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp), tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n), tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất ArkeiSialua (ar-s) và tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất tiền Cambri (pp).
Tổng tài nguyên nước dự báo cho tầng chứa q là 143.371 m3/ngày, tầng chứa nước qh là 903.356m3/ngày, tầng chứa nước qp là 533.806m3/ngày, tầng chứa nước β(n2- qp) là 286.080 m3/ngày, tầng chứa nước (n) là 141.914 m3/ngày.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q)
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,94m tại xã Ia Tơi (LK2Tm1) và giá trị dâng cao nhất là 0,3m tại phường Kon Tum (C11am1).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,74m tại xã Đắc Tô (LK135T) và sâu nhất là -6,59m tại xã Ia Tơi (LK2Tm1). Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,13m đến 0,76m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh)
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,65m tại xã An Phú (QT5a-QN) và một công trình có mực nước dâng là 0,07m tại xã Bình Minh (QT3b-QN).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,22m tại xã Bình Sơn (QT2b-QN) và sâu nhất là -4,32m tại phường Trà Câu (QT9a-QN). Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,09m đến 2,37m.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp)
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế dâng so với tháng 11. Giá trị dâng cao nhất là 0,62m tại phường Trà Câu (QT9b-QN) và một công trình có mực nước hạ là 0,4m tại xã Tịnh Khê (QT4b-QN). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,61m tại xã Mỏ Cày (QT7b-QN) và sâu nhất là -4,06m tại phường Trà Câu (QT9b-QN). Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,63m đến 0,95m.
Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp)
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 1,35m tại xã Vạn Tường (QT1-QN). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -6,14m tại xã Vạn Tường (QT1-QN) và sâu nhất là -12,51m tại xã Ia Chim (LK130T). Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ m đến 0,01m đến 2,02m.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n)
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,37m tại xã Đắc Hà (LK139Tm1) và giá trị dâng cao nhất là 0,6m tại xã Ia Chim (LK131T). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,6m tại xã Đăk Hà (LK138Tm1) và sâu nhất là -15,33m tại xã Đắc Hà (LK139Tm1). Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,06m đến 1,22m.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất Arkei- Sialua (ar-s)
Theo kết quả quan trắc tại công trình LK157T thuộc xã Bờ Y mực nước trung bình tháng 12 dâng 0,3m so với tháng 11. Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước tại công trình LK157T có xu thế hạ.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá biến chất tiền Cambri (pp)
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 có xu thế hạ so với tháng 11. Giá trị hạ thấp nhất là 0,26m tại xã Long Phụng (QT8b-QN). Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,23m tại xã Vạn Tường (QT2cQN) và sâu nhất là -3,62m tại xã Long Phụng (QT8b-QN). Trong tháng 01 và tháng 02 năm 2026 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,02m đến 0,8m.