Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 238/QĐ-BNNMT về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Đồng Nai mùa cạn năm 2026. Việc công bố kịch bản nhằm phục vụ công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên toàn lưu vực, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của người dân, doanh nghiệp và các ngành kinh tế.
Kịch bản đồng thời là căn cứ để các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên lưu vực, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao, chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước, cũng như để các tổ chức, cá nhân quản lý, vận hành công trình khai thác, sử dụng nước lập kế hoạch phù hợp theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2023 và các nghị định hướng dẫn thi hành.
Cơ sở xây dựng và phạm vi công bố kịch bản
Kịch bản nguồn nước được xây dựng và công bố theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Kỳ công bố được tính toán, đánh giá cho mùa cạn năm 2026, từ tháng 01 đến hết tháng 6/2026, trên cơ sở tổng hợp, phân tích các yếu tố khí tượng thủy văn, hiện trạng nguồn nước mặt, nước dưới đất, nhu cầu sử dụng nước của các ngành, cũng như khả năng điều tiết của hệ thống hồ chứa thủy điện, thủy lợi và các công trình khai thác, sử dụng nước trên toàn lưu vực.
Việc công bố kịch bản thể hiện định hướng quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, gắn kết chặt chẽ giữa công tác dự báo, điều tiết, phân phối nước với yêu cầu bảo đảm an ninh nguồn nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng nhu cầu sử dụng nước và áp lực phát triển kinh tế – xã hội ngày càng lớn tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.
Xu thế khí tượng, thủy văn trong mùa cạn 2026
Theo kịch bản, hiện tượng ENSO đang trong trạng thái La Nina, dự báo trong 6 tháng đầu năm 2026 có khả năng chuyển dần và duy trì điều kiện trung tính với xác suất từ 60–75%. Khả năng duy trì trạng thái La Nina ở mức 35–40% trong giai đoạn tháng 01–3/2026 và giảm xuống dưới 15% trong các tháng 4–6/2026.
Về nhiệt độ, giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 5/2026 phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm; riêng tháng 6/2026 có khả năng cao hơn từ 0,5–1,0°C. Nắng nóng được dự báo xuất hiện từ khoảng cuối tháng 02/2026, tập trung trước hết tại các tiểu lưu vực thượng lưu và hạ lưu sông Đồng Nai, sau đó có xu thế gia tăng cường độ và mở rộng ra toàn lưu vực.
Tổng lượng mưa từ tháng 01 đến tháng 4/2026 trên toàn lưu vực có xu thế cao hơn trung bình nhiều năm từ 10–40%; giai đoạn tháng 5–6/2026 phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm.
Diễn biến dòng chảy và xu thế diễn biến mực nước triều
Dòng chảy trên các sông chính và phụ lưu được dự báo có sự phân hóa theo thời gian và từng tiểu lưu vực. Trên sông Bé, tại hồ Thác Mơ, dòng chảy trong giai đoạn tháng 01–3/2026 có xu thế cao hơn trung bình từ 2–23%, song giảm thấp hơn từ 4–24% trong các tháng 4–6/2026.
Trên dòng chính sông Đồng Nai, tại các hồ Đơn Dương, Đại Ninh, dòng chảy có xu thế cao hơn trung bình từ 17–52% trong giai đoạn đầu mùa cạn, xấp xỉ trung bình trong các tháng cuối kỳ. Tại các hồ Đồng Nai 3 và Trị An, dòng chảy cao hơn trung bình trong hai tháng đầu năm, sau đó có xu thế giảm nhẹ trong các tháng 5–6/2026.
Trên sông La Ngà, tại hồ Hàm Thuận, dòng chảy được dự báo cao hơn trung bình trong phần lớn thời gian; trong khi đó, trên sông Sài Gòn, tại hồ Dầu Tiếng, dòng chảy có xu thế biến động, cao hơn trung bình ở một số thời điểm đầu mùa và thấp hơn trung bình trong các tháng cao điểm nắng nóng.
Mực nước triều trong tháng 01 và 02/2026 có khả năng đạt đỉnh cao hơn cùng kỳ năm 2025, làm gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn ở khu vực hạ lưu. Độ mặn tại các trạm bơm Hóa An và Hòa Phú được dự báo tăng trong thời kỳ triều cường, đòi hỏi vận hành hợp lý các hồ chứa, đặc biệt là hồ Dầu Tiếng và hồ Trị An, nhằm bảo đảm ngưỡng mặn không vượt 250 mg/l, phục vụ an toàn cho cấp nước sinh hoạt.
Hiện trạng và xu thế mực nước dưới đất
Mực nước dưới đất trên toàn lưu vực được dự báo cơ bản ổn định và có xu thế dâng nhẹ so với cùng kỳ năm 2025 tại nhiều khu vực. Các tầng chứa nước lỗ hổng ở tiểu vùng hạ lưu sông Đồng Nai và sông Sài Gòn – thượng Vàm Cỏ có mực nước dao động trong khoảng 6,7–19,7m, bảo đảm khả năng khai thác an toàn.
Tại vùng phụ cận ven biển, mực nước trong các tầng chứa nước phân bố từ 2,7–29,5m, tuy có xu thế dâng nhẹ nhưng khả năng trữ nước kém do thoát nhanh ra biển, tiềm ẩn rủi ro suy giảm cục bộ trong mùa cạn. Ở khu vực thượng lưu, nơi nước dưới đất chủ yếu tồn tại trong các tầng khe nứt và bazan phun trào, mực nước có thể hạ thấp nhanh tại các vùng địa hình cao, xa nguồn bổ cập, đòi hỏi tăng cường giám sát và quản lý khai thác.
Nhu cầu khai thác, sử dụng nước của các ngành
Trên lưu vực sông Đồng Nai hiện có khoảng 438 công trình cấp nước tập trung phục vụ sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ, với tổng lượng nước cấp trong mùa cạn năm 2026 ước khoảng 950 triệu m³. Trong đó, phần lớn lượng nước được cung cấp từ các công trình khai thác quy mô lớn.
Nông nghiệp tiếp tục là lĩnh vực sử dụng nước lớn nhất, chiếm khoảng 48% tổng nhu cầu, tập trung tại tiểu vùng sông Sài Gòn – thượng Vàm Cỏ và khu vực phụ cận ven biển. Tổng nhu cầu nước cho nông nghiệp từ tháng 01 đến tháng 6/2026 ước khoảng 3,62 tỷ m³, trong đó hơn 2,4 tỷ m³ được cấp từ hệ thống hồ chứa, đập dâng, cống và trạm bơm.
Đối với thủy điện, nhu cầu nước của 9 hồ chứa lớn trên lưu vực trong kỳ kịch bản ước khoảng 10,13 tỷ m³, tương đương sản lượng điện hơn 3 tỷ kWh. Sản lượng điện dự báo thấp hơn trung bình nhiều năm, đặc biệt trong các tháng 4–6/2026.
Đánh giá trạng thái nguồn nước
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích hiện trạng và dự báo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định nguồn nước trên toàn lưu vực sông Đồng Nai trong mùa cạn năm 2026 cơ bản ở “trạng thái bình thường”. Các hồ chứa lớn và hệ thống công trình khai thác, sử dụng nước có khả năng đáp ứng các nhu cầu chính cho sinh hoạt, sản xuất và phát điện.
Tuy nhiên, nguồn nước trên lưu vực trong kỳ công bố kịch bản không phải là “dồi dào”, vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số tiểu vùng, đặc biệt trong các đợt nắng nóng diện rộng hoặc khi lượng nước về hồ thiếu hụt so với trung bình nhiều năm. Nguyên nhân chủ yếu là năng lực lấy nước và hệ thống công trình thủy lợi tại một số khu vực còn hạn chế, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân.
Định hướng điều hành và kiến nghị giải pháp
Để giảm thiểu rủi ro thiếu nước và chủ động ứng phó trong mọi tình huống, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các bộ, ngành và địa phương trên lưu vực tăng cường phối hợp trong xây dựng và thực hiện kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt.
Bộ Công Thương được đề nghị chỉ đạo các đơn vị quản lý, vận hành hệ thống điện xây dựng kế hoạch vận hành hồ chứa thủy điện phù hợp với khả năng nguồn nước, bảo đảm cấp nước hạ du trong suốt mùa cạn. Các địa phương cần rà soát, nâng cao năng lực tích trữ và điều tiết nước của hệ thống hồ chứa thủy lợi, đầu tư nâng cấp các công trình có hiệu quả khai thác thấp, mở rộng phạm vi cấp nước tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước.
Công tác giám sát khai thác nước mặt và nước dưới đất cần được tăng cường, kết hợp luân phiên sử dụng các nguồn nước, đẩy mạnh tích trữ nước mưa, áp dụng các mô hình tưới tiết kiệm và sử dụng nước hiệu quả trong nông nghiệp.
Đối với bảo đảm an ninh cấp nước sinh hoạt, Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần rà soát năng lực các nhà máy nước, điều chỉnh quy hoạch cấp nước phù hợp với diễn biến nguồn nước, kiểm soát chặt chẽ nguồn thải, bảo vệ hành lang nguồn nước và tăng cường hệ thống quan trắc, dự báo, cảnh báo sớm.
Cục Quản lý tài nguyên nước được giao chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ tính toán, cập nhật và trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc cập nhật Kịch bản nguồn nước trong trường hợp xảy ra diễn biến bất thường về khí tượng, thủy văn hoặc phát sinh các yêu cầu đối với nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng; định kỳ hằng tháng trong mùa cạn năm 2026, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hiện trạng nguồn nước, đánh giá trạng thái nguồn nước và tình hình triển khai kịch bản nguồn nước đã công bố; đồng thời, xây dựng và tổ chức thực hiện phương án điều hòa, phân phối nước trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước trên diện rộng.
Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi: Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương rà soát, nâng cao năng lực hệ thống các hồ chứa thủy lợi, lập, điều chỉnh các quy trình vận hành các hồ chứa thủy lợi và công trình thủy lợi trên lưu vực sông Đồng Nai theo quy định, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu và bảo đảm lưu thông dòng chảy, không gây ứ đọng, ô nhiễm nguồn nước.
Các Cục: Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi và Thú y theo chức năng, nhiệm vụ: Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi phù hợp với KBNN; hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chủ động điều chỉnh lịch thời vụ cho các địa phương trên các lưu vực sông, nhất là các vùng, khu vực được cảnh báo có nguy cơ hạn hán, thiếu nước
Cục Khí tượng Thủy văn theo dõi, cập nhật bản tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; tăng cường dự báo, cảnh báo cho các khu vực, vùng có nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước đã được nhận định trong KBNN.
Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi miền Nam: giám sát chặt chẽ việc khai thác nguồn nước hồ Dầu Tiếng, Phước Hòa phục vụ cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các mục đích khác, đảm bảo tránh thất thoát, lãng phí nước. Đồng thời, phối hợp với các đơn vị khai thác, sử dụng nguồn nước sông Sài Gòn, Vàm Cỏ phục vụ cấp nước sinh hoạt để lập kế hoạch vận hành xả nước từ hồ Dầu Tiếng phục vụ đẩy mặn, nâng cao khả năng lấy nước cho các công trình cấp nước sinh hoạt quan trọng ở hạ lưu sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ, bảo đảm phù hợp với KBNN.
Các địa phương được yêu cầu khẩn trương hoàn thiện kế hoạch bảo vệ nước dưới đất, công bố và cập nhật danh mục vùng hạn chế khai thác, khoanh định khu vực có tiềm năng bổ cập nhân tạo nhằm phục hồi các tầng chứa nước. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.