Lưu vực sông Mã là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm lãnh thổ của các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa và Lai Châu, với diện tích lưu vực là 17.600 km².
Trong khu vực này mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Tài nguyên nước mặt của lưu vực sông: theo tính toán tổng lượng mưa năm bình quân từ 1.100 – 1.860 mm; Tổng lượng dòng chảy trung bình hàng năm trên lưu vực sông là khoảng 22,81 tỷ m3, trong đó phần sản sinh tại Việt Nam khoảng 18,48 tỷ m3 và tại Lào 4,33 tỷ m3, trong đó lượng dòng chảy mùa lũ chiếm khoảng 85% và mùa cạn chiếm 15% tổng lượng dòng chảy năm.
Tài nguyên nước dưới đất trên lưu vực sông được quan trắc tại khu vực đồng bằng tỉnh Thanh Hóa bao gồm 2 tầng chứa nước chính là tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh) và tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp); Tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước: tầng chứa nước qh là 1.588.013 m3/ngày, tầng chứa nước qp là 3.429.565 m3/ngày.
Tài nguyên nước mặt
Theo nhận định của Trung tâm Dự báo khí tượng thuỷ văn quốc gia, tổng lượng mưa tháng 12 năm 2025 khu vực Bắc Bộ và tỉnh Thanh Hoá phổ biến từ 10-25mm, thấp hơn từ 10-20mm so với trung bình nhiều năm (TBNN) cùng thời kỳ.
Dựa theo nhận định trên kết hợp với số liệu mưa dự báo từ vệ tinh, dự báo trong tháng 12, tổng lượng nước mặt dự báo sinh ra từ mưa trên phạm vi diện tích lưu vực sông Mã vào khoảng 664-732 tỷ m³.
Căn cứ trên nhu cầu khai thác sử dụng nước của các vùng và đối chiếu kết quả dự báo lượng nước có thể khai thác sử dụng có thể thấy rằng, trong tháng 12 không có vùng nào thiếu nước trên lưu vực sông Mã.
Tài nguyên nước dưới đất
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh)
Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 11 so với tháng 10 có xu thế hạ, có 7/11 công trình mực nước hạ, 3/11 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/11 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,74m tại xã Xuân Hòa (QT4-TH) và giá trị dâng là 0,07m tại phường Sầm Sơn (QT9-TH).
Trong tháng 11: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,67m tại xã Vạn Lộc (QT3-TH) và sâu nhất là -8,84m tại xã Xuân Hòa (QT4-TH).
Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 11 so với cùng thời điểm 1 năm, 5 năm và 10 năm trước cho thấy mực nước suy giảm lớn nhất lần lượt là 1,40m; 1,02m và 1,05m tại phường Hạc Thành, xã Thọ Xuân và phường Tân Dân.
Diễn biến mực nước dưới đất dự báo tháng 12 so với mực nước quan trắc tháng 11 có xu thế hạ, có 10/11 công trình mực nước hạ, 1/11 công trình mực nước dâng. Mực nước hạ từ 0,2 đến 0,5m tập trung ở xã Vạn Lộc và mực nước dâng từ 0,05 đến 0,2m ở phường Tân Dân.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene (qp)
Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 11 so với tháng 10 có xu thế hạ, có 8/13 công trình mực nước hạ, 4/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/13 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 1,04m tại xã Yên Trường (QT1a-TH) và giá trị dâng cao nhất là 0,06m tại xã Nga Sơn (QT13a-TH).
Trong tháng 11: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,73m tại xã Thọ Phú (QT10a-TH) và sâu nhất là -8,24m tại xã Xuân Hòa (QT4a-TH). Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 11 so với cùng thời điểm 1 năm, 5 năm và 10 năm trước cho thấy mực nước suy giảm lớn nhất lần lượt là 0,78m; 1,44m và
1,58m tại xã Thọ Xuân.
Diễn biến mực nước dưới đất dự báo tháng 12 so với mực nước quan trắc tháng 11 có xu thế hạ, có 8/13 công trình mực nước hạ, 5/13 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước hạ từ 0,2 đến 0,5m tập trung ở xã Yên Trường, xã Thiệu Trung.