Ngày 2/2, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp đã kí Văn bản số 07/VBHN-BNNMT về việc Văn bản hợp nhất Nghị định quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Nghị định số 54/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 được sửa đổi, bổ sung bởi: Nghị định số 23/2026/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước, có hiệu lực kể từ ngày 17 tháng 01 năm 2026.
Theo đó, Nghị định này quy định chi tiết khoản 3 Điều 31, Điều 52, khoản 4 Điều 53, khoản 6 Điều 69 và Điều 70 của Luật Tài nguyên nước về việc cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; việc kê khai, đăng ký, cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; việc nộp, miễn, giảm tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; dịch vụ về tài nguyên nước.
Nghị định gồm 5 Chương và 59 Điều. Cụ thể, Chương I. Quy định chung; Chương II. Kê khai, đăng kí, cáp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; Chương III. Hành nghề khoan nước dưới đất và dịch vụ về tài nguyên nước; Chương IV. Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; Chương V. Trách nhiệm thực hiện và hiệu lực thi hành.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Nghị định số 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung 46/59 của Nghị định số 54/2024/NĐ- CP thuộc 04 nhóm vấn đề chính, cụ thể như sau:
Nhóm 1: sửa đổi, bổ sung các quy định theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường
Thực hiện nguyên tắc xây dựng Văn bản quy phạm pháp luật không quy định những nội dung chi tiết trong Luật, theo đó Luật sửa đổi, bổ sung đã bãi bỏ các quy định về thời hạn của giấy phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước, nguyên tắc, điều kiện, căn cứ cấp phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước trong Luật Tài nguyên nước năm 2023. Do đó, Nghị định bổ sung quy định thời hạn của giấy phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước, nguyên tắc, điều kiện, căn cứ cấp phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước.
Sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền việc kê khai, đăng ký, cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, hành nghề khoan nước dưới đất nhằm phù hợp với Luật sửa đổi bổ sung.
Nhóm 2: Liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa các quy định, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên nước Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 5/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ: Về việc phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa các quy định, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Sửa đổi, bổ sung trình tự, thủ tục giải quyết thủ tục hành chính đảm bảo phù hợp với quy định của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/6/2025 về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Sửa đổi, bổ sung đơn giản hóa các quy định về đăng ký, cấp phép khai thác tài nguyên nước, trong đó bổ sung trường hợp miễn không phải kê khai, đăng ký, cấp phép mà trước đây phải thực hiện việc kê khai, đăng ký, cấp phép (khai thác nước mặt cho mục đích thi công xây dựng công trình đối với hồ chứa, đập dâng, công trình thủy lợi; khai thác nước cho các hoạt động sản xuất lâm nghiệp và hoạt động dịch vụ có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp).
Điều chỉnh giảm các trường hợp phải cấp phép khai thác tài nguyên nước, chuyển thành các trường hợp phải đăng ký đối với các công trình thủy lợi (công trình khai thác nước là hồ, đập thủy lợi cấp cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có dung tích toàn bộ từ 0,01 triệu m3 đến 0,5 triệu m3).
Sửa đổi, đơn giản hóa, cắt giảm về thành phần hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh nội dung giấy phép, cấp lại, trả lại, tạm dừng giấy phép thăm dò, khai thác tài nguyên nước (bỏ quy định về sơ đồ khu vực và vị trí công trình khai thác và kết quả phân tích chất lượng nước trong thành phần hồ sơ).
Cắt giảm thời gian, đơn giản hóa thành phần hồ sơ đối với các thủ tục hành chính theo phương án cắt giảm thủ tục hành chính đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1671/QĐ-TTg. Đồng thời, tiếp tục đơn giản hóa thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính theo phương án đã được phê duyệt (bỏ quy định về sơ đồ khu vực và vị trí công trình khai thác và kết quả phân tích chất lượng nước trong thành phần hồ sơ trong các hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn giấy phép khai thác tài nguyên nước).
Sửa đổi, cắt giảm điều kiện, quy mô hành nghề khoan nước dưới đất theo hướng không quy định các quy mô hành nghề khoan nước dưới đất (trước đây quy định hành nghề theo quy mô lớn, nhỏ) để tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng cho các tổ chức cá nhân đủ điều kiện hành nghề, cũng như phù hợp với chủ trương của Nghị số 68- NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Sửa đổi, bổ sung quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục phê duyệt, điều chỉnh, truy thu và kinh phí thẩm định tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước nhằm đảm bảo phù hợp với Nghị định số 118/2025/NĐ-CP, Quyết định số 1671/QĐ-TTg và quy định mới của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, rà soát đơn giản hóa các biểu mẫu trong các thủ tục hành chính trong việc cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại, chấp thuận trả lại, tạm dừng, đình chỉ, thu hồi giấy phép thăm dò nước dưới đất, giấy phép khai thác tài nguyên nước, giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất và kê khai, đăng ký khai thác, sử dụng tài nguyên nước đất.
Nhóm 3: sửa đổi, bổ sung theo quy định phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền để triển khai tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp
Ngoài việc quy định các nội dung phân quyền, phân cấp đã được ban hành tại Nghị định số 136/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Nghị định tiếp tục phân cấp thêm về địa phương đối với khai thác nước mặt để phát điện (từ 5.000kw đến dưới 30.000kw); công trình ngăn sông, cống ngăn sông, suối, kênh, mương rạch với mục đích ngăn mặn, tạo nguồn, chống ngập, tạo cảnh quan (từ 100m đến dưới 200m).
Đồng thời, thống nhất thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi không quy định quy mô hành nghề khoan nước dưới đất.
Nhóm 4: sửa đổi, cập nhật tên các cơ quan, đơn vị để phù hợp với thực tế do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước theo Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025, sửa đổi tại 21 Điều liên quan đến việc thay đổi tên và trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương sau khi sáp nhập theo chức năng, nhiệm vụ mới.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.