Sign In

Chủ động bảo đảm an ninh nguồn nước lưu vực Bằng Giang – Kỳ Cùng trong mùa cạn 2026

16:35 21/01/2026

Chọn cỡ chữ A a   chia sẻ facebook   chia sẻ zalo   chia sẻ zalo    

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 240/QĐ-BNNMT về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng mùa cạn năm 2026.

 

Việc công bố Kịch bản nguồn nước không chỉ có ý nghĩa dự báo, cảnh báo sớm mà còn là căn cứ pháp lý và kỹ thuật để các bộ, ngành, địa phương trên lưu vực chủ động xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước phù hợp với Kịch bản nguồn nước, phù hợp với các quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2023 và các nghị định hướng dẫn thi hành. Qua đó, bảo đảm việc sử dụng tài nguyên nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu, hài hòa lợi ích giữa các ngành, các vùng và các nhóm đối tượng sử dụng nước.


Cơ sở pháp lý và phạm vi áp dụng


Kịch bản nguồn nước trên LVS Bằng Giang – Kỳ Cùng mùa cạn năm 2026 được xây dựng và công bố trên cơ sở các quy định tại khoản 1, khoản 5 và khoản 6 Điều 35 Luật Tài nguyên nước năm 2023; khoản 2 Điều 43 và các khoản 2, 3, 4, 5 Điều 45 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ. Nội dung kịch bản tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều 41 Nghị định số 53/2024/NĐ-CP, bảo đảm đầy đủ các thành phần về hiện trạng, dự báo, nhu cầu sử dụng nước, khả năng đáp ứng của nguồn nước và các giải pháp điều hòa, phân phối trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước.


Kỳ công bố Kịch bản nguồn nước trong mùa cạn năm 2026 được xác định từ tháng 01/2026 đến tháng 6/2026. Phạm vi xây dựng KBNN trên toàn bộ LVS Bằng Giang - Kỳ Cùng thuộc lãnh thổ Việt Nam được phân chia thành 04 (bốn) tiểu LVS, gồm: Bằng Giang; Bắc Khê; Bắc Giang và Kỳ Cùng.


Gia tăng nhu cầu nước mùa cạn 2026 trên lưu vực Bằng Giang – Kỳ Cùng


Theo kịch bản được công bố, tổng nhu cầu khai thác, sử dụng nước của các ngành (không bao gồm thủy điện) trên toàn LVS Bằng Giang – Kỳ Cùng trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 6/2026 ước khoảng 293 triệu m³. Trong đó, tiểu LVS Bằng Giang khoảng 103 triệu m³, tiểu LVS Bắc Khê khoảng 20 triệu m³, tiểu LVS Bắc Giang khoảng 65 triệu m³ và tiểu LVS Kỳ Cùng khoảng 105 triệu m³.


Hiện nay, trên lưu vực có 1.164 công trình cấp nước tập trung phục vụ sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động kinh doanh – dịch vụ. Trong số này, có 1.123 công trình khai thác nước mặt và 41 công trình khai thác nước dưới đất, với tổng lưu lượng khai thác khoảng 160,5 nghìn m³/ngày đêm. Trong đó, có 68 công trình cấp nước tập trung đô thị với tổng lưu lượng khai thác khoảng 98 nghìn m3/ngày đêm (chiếm khoảng 61% tổng lượng nước khai thác), gồm: có 44 công trình khai thác nước mặt, tổng lưu lượng 80 nghìn m3/ngày đêm, 24 công trình khai thác nước dưới đất, tổng lưu lượng 18 nghìn m3/ngày đêm.


Nhu cầu nước cho nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, tập trung chủ yếu tại tiểu LVS Bằng Giang và Kỳ Cùng. Dự báo tổng nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp trong mùa cạn năm 2026 khoảng 230,5 triệu m³, trong đó tháng 02 được xác định là thời điểm có nhu cầu cao nhất, khoảng 78 triệu m³. Trên lưu vực hiện có 127 hồ chứa thủy lợi (quy mô từ 0,05 triệu m³ trở lên), 82 trạm bơm cùng hàng nghìn công trình nhỏ và công trình tạm phục vụ tưới tiêu, cấp nước cho sản xuất.


Đối với lĩnh vực thủy điện, nhu cầu nước để phục vụ vận hành 07 hồ chứa thủy điện trên lưu vực trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 6/2026 ước khoảng 5 tỷ m³, tương đương sản lượng điện khoảng 125,6 triệu kWh, xấp xỉ mức trung bình nhiều năm giai đoạn 2015–2025 và cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, do các công trình này chủ yếu là thủy điện nhỏ, có chế độ điều tiết ngày – đêm, nên sản lượng điện phụ thuộc nhiều vào lượng dòng chảy thực tế đến hồ.

 


Nguồn nước lưu vực Bằng Giang - Kỳ Cùng: Trạng thái bình thường, nguy cơ thiếu nước cục bộ


Trên cơ sở thông tin, số liệu về hiện trạng, dự báo xu thế diễn biến nguồn nước của nguồn nước trên các tiểu LVS, trong các tầng chứa nước dưới đất, dự báo khí tượng, thủy văn trên LVS, nhận định khả năng nguồn nước trên LVS Bằng Giang - Kỳ Cùng trong mùa cạn năm 2026 ở “Trạng thái bình thường”.


Để đánh giá mức độ đáp ứng của nguồn nước cho các mục đích sử dụng nước và các yêu cầu về đảm bảo an ninh nguồn nước, an ninh lương thực nhằm giảm thiểu rủi ro khả năng thiếu nước do việc khai thác, sử dụng nước không hiệu quả, lãng phí. KBNN trên LVS Bằng Giang - Kỳ Cùng mùa cạn năm 2026 được tính toán, đánh giá theo các tiểu vùng, các nguồn nước. Dự báo đến cuối vụ Đông Xuân năm 2026, dung tích trữ tại các hồ chứa thủy lợi trên lưu vực còn khoảng 50–60%, cơ bản bảo đảm yêu cầu cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp vụ Đông Xuân. Tuy nhiên, kịch bản cũng chỉ rõ, nguy cơ thiếu nước cục bộ vẫn có thể xảy ra tại một số khu vực do thiếu hụt lượng mưa, dòng chảy đến hồ thấp hơn trung bình nhiều năm, trong khi năng lực lấy nước và hệ thống công trình cấp nước chưa đồng bộ, đặc biệt tại các vùng miền núi, vùng xa trung tâm.


Cụ thể, tại tiểu LVS Bằng Giang (tỉnh Cao Bằng), nguy cơ thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp có thể xuất hiện trong giai đoạn từ tháng 02 đến tháng 4/2026 tại một số khu vực thuộc các xã Vũ Minh, Minh Tâm, Nam Tuấn, Hòa An, Bế Văn Đàn và Ngọc Chung. Đồng thời, nguy cơ thiếu nước sinh hoạt được đánh giá là cao tại khu vực Lục Khu cũ, nay là các xã Lũng Nặm, Tổng Cọt và Hà Quảng.


Tại tiểu LVS Bắc Giang (tỉnh Thái Nguyên), nguy cơ thiếu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp có thể xảy ra trong cùng giai đoạn tại các xã Cường Lợi, Xuân Dương, Na Rì, Văn Lang và Trần Phú.


Đối với tiểu LVS Bắc Khê và Kỳ Cùng (tỉnh Lạng Sơn), các khu vực thuộc các xã Hoàng Văn Thụ, Na Sầm, Văn Lãng, Hồng Phong, Yên Phúc, Na Dương, Lộc Bình và các xã Tân Văn, Tri Lễ, Bằng Mạc thuộc tiểu vùng Mo Pia được xác định là những điểm có nguy cơ thiếu nước cục bộ trong cao điểm mùa cạn.


Khai thác nước dưới đất: Tăng cường kiểm soát, bảo đảm cấp nước bền vững


Trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 6/2026, nguồn nước dưới đất trên toàn lưu vực cơ bản tiếp tục đáp ứng nhu cầu khai thác cho các công trình hiện có. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng về số lượng và chất lượng nước có sự khác biệt giữa các khu vực, phụ thuộc vào khả năng bổ cập tự nhiên, mức độ khai thác tập trung và chế độ vận hành của từng công trình.


Việc đánh giá được thực hiện thông qua dự báo mực nước động tại các công trình khai thác, so sánh với ngưỡng mực nước giới hạn, cụ thể là 30 m đối với các tầng chứa nước lỗ hổng và 50 m đối với các tầng chứa nước trong đá bazan, khe nứt. Tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước sinh hoạt như Lũng Nặm, Tổng Cọt và Hà Quảng, việc nghiên cứu, xây dựng các công trình khai thác nước dưới đất được khuyến nghị xem xét như một giải pháp bổ sung nguồn nước.


Theo kết quả Dự án điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất tại các vùng núi cao, vùng khan hiếm nước, trên toàn lưu vực hiện có 29 lỗ khoan với tổng lưu lượng khoảng 4.113 m³/ngày đêm. Trong đó, tiểu LVS Bằng Giang có 20 lỗ khoan, tiểu LVS Bắc Khê có 03 lỗ khoan, tiểu LVS Kỳ Cùng có 05 lỗ khoan và tiểu LVS Bắc Giang có 01 lỗ khoan.


Kịch bản nguồn nước chỉ rõ, những nguy cơ thiếu nước cục bộ chủ yếu xuất phát từ các yếu tố: lượng mưa và dòng chảy đến hồ thấp hơn trung bình nhiều năm; hệ thống công trình thủy lợi, cấp nước chưa đồng bộ; năng lực lấy nước hạn chế tại một số vùng địa hình phức tạp; và áp lực gia tăng từ nhu cầu nước cho sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng khó lường.


Giải pháp điều hành và kiến nghị đối với các bộ, ngành, địa phương


Nhằm giảm thiểu nguy cơ thiếu nước cục bộ, chủ động ứng phó với các đợt nắng nóng diện rộng trong mùa cạn, đồng thời ưu tiên bảo đảm cấp nước sinh hoạt trong mọi tình huống, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các bộ, ngành và địa phương trên lưu vực triển khai đồng bộ các giải pháp sau:


Đối với Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động chỉ đạo lập và thực hiện kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo nhu cầu bình thường của từng ngành, lĩnh vực và địa phương. Các kế hoạch cần tuân thủ nguyên tắc sử dụng nước tiết kiệm, hạn chế thất thoát, lãng phí và có phương án dự phòng cho các tháng cuối mùa cạn.


Đối với UBND các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên, tổ chức rà soát, điều chỉnh quy trình vận hành các công trình thủy lợi, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu; duy trì lưu thông dòng chảy trong hệ thống công trình, không gây ô nhiễm nguồn nước. Đồng thời, khẩn trương xây dựng và ban hành quy chế phối hợp vận hành các đập, hồ chứa trên sông, suối theo quy định của Luật Tài nguyên nước, bảo đảm việc chia sẻ nguồn nước giữa các khu vực trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước.


Các địa phương cần rà soát, cắt giảm diện tích canh tác tại những vùng có nguy cơ thiếu nước, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp, áp dụng các mô hình tưới tiết kiệm, đồng thời xây dựng kế hoạch khai thác, sử dụng nước phù hợp với Kịch bản nguồn nước đã được công bố.


Song song với đó, tiếp tục nghiên cứu, đầu tư xây dựng công trình tích trữ nước theo Kết luận 36 - KL/TW ngày 23/6/2022, trong đó: ưu tiên xây dựng các công trình điều tiết, tích trữ nước ở vùng khan hiếm nước, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.


Nhiệm vụ cụ thể đối với từng địa phương


Tỉnh Lạng Sơn được đề nghị sớm hoàn thiện hệ thống thủy lợi Bản Lải, nâng cao hiệu quả khai thác các công trình Tà Keo, Nà Cáy, cũng như các hồ chứa Nà Tâm, Thâm Sỉnh, Bó Diêm, Rọ Hoạt và Kéo Páng. Đồng thời, ưu tiên xây dựng các công trình điều tiết, tích trữ nước tại các xã Hoàng Văn Thụ, Na Sầm, Văn Lãng, Hồng Phong, Tân Văn, Tri Lễ, Bằng Mạc, Yên Phúc, Na Dương và Lộc Bình. Việc sử dụng hiệu quả 09 lỗ khoan thuộc tiểu LVS Bắc Khê và Kỳ Cùng theo Quyết định số 1319/QĐ-BNNMT cũng cần được đẩy mạnh.


Tỉnh Cao Bằng cần tập trung khai thác hiệu quả nguồn nước từ các hồ chứa Bản Nưa, Khuổi Lái và Nà Tấu; khẩn trương công bố danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất; ưu tiên đầu tư các công trình tích trữ nước tại vùng Lục Khu và các xã Vũ Minh, Minh Tâm, Nam Tuấn, Hòa An, Bế Văn Đàn và Ngọc Chung. Đồng thời, cải tạo, nâng cấp các nhà máy nước tập trung, bảo đảm đưa các công trình vào vận hành đúng tiến độ, đặc biệt là Nhà máy nước xã Hòa An.


Tỉnh Thái Nguyên được đề nghị chỉ đạo khai thác hiệu quả hồ Bản Chang nhằm giảm thiểu tác động của hạn hán, thiếu nước; ưu tiên xây dựng các công trình điều tiết, tích trữ nước tại các xã Cường Lợi, Xuân Dương, Na Rì, Văn Lang và Trần Phú; nghiên cứu, điều tra nguồn nước dưới đất phục vụ sinh hoạt tại các khu vực núi cao, khan hiếm nước.


Vai trò của các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường


Cục Quản lý tài nguyên nước được giao chủ trì, phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ tính toán, cập nhật và trình Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định việc cập nhật KBNN trong trường hợp xảy ra diễn biến bất thường về khí tượng, thủy văn hoặc phát sinh các yêu cầu đối với nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, an ninh lương thực. Định kỳ hằng tháng trong mùa cạn năm 2026, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hiện trạng nguồn nước, đánh giá trạng thái nguồn nước và tình hình triển khai KBNN đã công bố. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xây dựng, cập nhật và tổ chức thực hiện phương án điều hòa, phân phối tài nguyên nước trong trường hợp hạn hán, thiếu nước xảy ra trên diện rộng trên lưu vực sông. Đồng thời, triển khai các hoạt động điều hòa, phân phối tài nguyên nước tương ứng với trạng thái nguồn nước và mức độ chuyển trạng thái nguồn nước.


Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các địa phương rà soát, nâng cao năng lực hệ thống các hồ chứa thủy lợi, lập, điều chỉnh các quy trình vận hành công trình, hệ thống công trình thủy lợi bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu và bảo đảm lưu thông dòng chảy, không gây ứ đọng, ô nhiễm nguồn nước.


Các Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chăn nuôi và Thú y phối hợp hướng dẫn địa phương xây dựng cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi phù hợp với Kịch bản nguồn nước, chủ động điều chỉnh lịch thời vụ tại các khu vực có nguy cơ hạn hán, thiếu nước.


Cục Khí tượng thủy văn tiếp tục tăng cường công tác dự báo, cảnh báo khí tượng – thủy văn, kịp thời cung cấp thông tin cho các địa phương, đặc biệt là các vùng được xác định có nguy cơ thiếu nước trong mùa cạn.

File đính kèm:

DWRM

Nội dung trong tệp đính kèm

Ý Kiến

Ban hành Danh mục lưu vực sông liên quốc gia và lưu vực sông liên tỉnh

Ban hành Danh mục lưu vực sông liên quốc gia và lưu vực sông liên tỉnh

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà ký Quyết định số 205/QĐ-TTg ban hành Danh mục lưu vực sông liên quốc gia và Danh mục lưu vực sông liên tỉnh.

Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026: Bảo đảm an ninh nước cho sinh hoạt và sản xuất

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 243/QĐ-BNNMT công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Srêpốk mùa cạn năm 2026, làm cơ sở điều hòa, phân phối và quản lý tài nguyên nước trên toàn lưu vực. Kịch bản nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Bảo đảm an ninh nguồn nước trên lưu vực sông Sê San theo Kịch bản mùa cạn 2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 242/QĐ-BNNMT về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Sê San mùa cạn năm 2026.