Ngày 17/01/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 06/2026/TT-BNNMT sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện pháp luật và phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới sau quá trình sắp xếp, kiện toàn các cơ quan quản lý nhà nước.
Theo đó, Thông tư tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định tại Thông tư số 03/2024/TT-BTNMT, Thông tư số 04/2024/TT-BTNMT và Thông tư số 05/2024/TT-BTNMT, Thông tư số 22/2024/TT-BTNMT. Đây là các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước; hướng dẫn công tác kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước, thẩm định và nghiệm thu kết quả điều tra cơ bản tài nguyên nước; cũng như quy định về việc di chuyển, thay đổi vị trí, giải thể trạm quan trắc tài nguyên nước dưới đất; và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về trám lấp giếng không sử dụng.
Một trong những điểm nhấn đáng chú ý của Thông tư là việc bổ sung quy định cụ thể về đối tượng phải xác định, công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Theo đó, đối tượng áp dụng là các công trình khai thác tài nguyên nước để sản xuất, cung cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt thuộc trường hợp phải cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước theo quy định tại Điều 2 của Thông tư.
Làm rõ trách nhiệm trong xác định vùng bảo hộ vệ sinh
Thông tư số 06/2026/TT-BNNMT cũng sửa đổi, bổ sung toàn diện Điều 13 về việc tổ chức xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên thực địa, với các quy định cụ thể theo từng trường hợp địa bàn.
Đối với trường hợp vùng bảo hộ vệ sinh nằm trên địa bàn một tỉnh, Thông tư phân định rõ trách nhiệm theo phạm vi hành chính. Nếu phạm vi vùng bảo hộ nằm trên địa bàn một xã, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định phê duyệt, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm gửi văn bản thông báo về thời gian, địa điểm và các cơ quan phối hợp đến tổ chức, cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện việc xác định ranh giới, phạm vi và vị trí đặt biển chỉ dẫn vùng bảo hộ vệ sinh trên thực địa.
Sau khi hoàn thành việc xác định ranh giới phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt và lắp đặt biển chỉ dẫn vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên thực địa, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo tới Sở Nông nghiệp và Môi trường về kết quả hoàn thành.
Trường hợp phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt nằm trên địa bàn hai xã trở lên, trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, Sở Nông nghiệp và Môi trường gửi văn bản thông báo về thời gian, địa điểm, các cơ quan phối hợp thực hiện xác định ranh giới phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh trên thực địa đến Ủy ban nhân dân các xã có liên quan, tổ chức, cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước và chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện việc xác định ranh giới phạm vi, vị trí đặt biển chỉ dẫn vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên thực địa.
Đối với trường hợp vùng bảo hộ vệ sinh nằm trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, Sở Nông nghiệp và Môi trường nơi có công trình khai thác nước sẽ là đầu mối chủ trì. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định phê duyệt, Sở có trách nhiệm gửi văn bản thông báo đến các Sở Nông nghiệp và Môi trường của các tỉnh liên quan và các tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời phối hợp tổ chức việc xác định ranh giới và lắp đặt biển chỉ dẫn theo đúng quy định.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đầu tư, quản lý, vận hành công trình khai thác nước trong việc phối hợp xác định ranh giới, vị trí đặt biển chỉ dẫn và thực hiện việc thi công, lắp đặt biển chỉ dẫn vùng bảo hộ vệ sinh trên thực địa.
Tăng cường vai trò chỉ đạo, giám sát của chính quyền địa phương
Song song với việc làm rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện trên thực địa, Thông tư sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 14, trong đó quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm. Cụ thể: xác định ranh giới phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên thực địa; kiểm tra, giám sát các hoạt động trong vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước trên địa bàn; tiếp nhận thông tin, giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của các công trình khai thác nước trên địa bàn theo thẩm quyền.”.
Hoàn thiện quy trình lấy ý kiến về bổ sung nhân tạo nước dưới đất
Một nội dung quan trọng khác được sửa đổi, bổ sung là Điều 29 về việc lấy ý kiến đối với kết quả vận hành thử nghiệm bổ sung nhân tạo nước dưới đất. Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi kết thúc vận hành thử nghiệm, tổ chức, cá nhân thực hiện bổ sung nhân tạo nước dưới đất phải báo cáo kết quả đến Sở Nông nghiệp và Môi trường để lấy ý kiến.
Báo cáo phải nêu rõ kết quả vận hành thử nghiệm, đánh giá mức độ đáp ứng các yêu cầu về lượng nước và chất lượng nước được bổ sung. Việc tiếp nhận báo cáo được thực hiện linh hoạt thông qua nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa, qua dịch vụ bưu chính, ủy quyền hợp pháp hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của hồ sơ. Trường hợp báo cáo chưa đáp ứng yêu cầu, cơ quan tiếp nhận phải hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoàn thiện và nêu rõ lý do. Khi hồ sơ hợp lệ, báo cáo được chuyển đến Sở Nông nghiệp và Môi trường để xem xét, cho ý kiến bằng văn bản trong thời hạn 11 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Quy trình này được đánh giá là góp phần tăng cường tính minh bạch, chuẩn hóa thủ tục hành chính, đồng thời bảo đảm việc bổ sung nhân tạo nước dưới đất được kiểm soát chặt chẽ về mặt kỹ thuật và môi trường.
Siết chặt yêu cầu quan trắc và bảo vệ nước dưới đất
Thông tư cũng sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 31, theo đó các công trình khai thác nước dưới đất thuộc diện phải quan trắc phục vụ giám sát khai thác nước. Trường hợp phải xây dựng giếng quan trắc, vị trí giếng phải bảo đảm tính đại diện cho hoạt động khai thác của công trình và được thể hiện rõ trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước.
Đồng thời, khoản 1 Điều 32 được sửa đổi, bổ sung để yêu cầu các tổ chức, cá nhân hoạt động khảo sát địa chất công trình, xử lý nền móng, xây dựng công trình ngầm, thăm dò địa chất, thăm dò và khai thác khoáng sản, dầu khí có các hạng mục khoan, đào, thí nghiệm phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ nước dưới đất, bên cạnh việc tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có liên quan.
Những quy định này nhằm hạn chế tối đa nguy cơ xâm nhập, ô nhiễm và suy giảm nguồn nước dưới đất trong quá trình thi công, khai thác và phát triển hạ tầng, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước lâu dài.
Thống nhất tên gọi, làm rõ trách nhiệm và quy trình phối hợp
Bên cạnh các nội dung chuyên môn, Thông tư số 06/2026/TT-BNNMT cũng thống nhất việc thay thế tên gọi các cơ quan quản lý từ “Bộ Tài nguyên và Môi trường”, “Sở Tài nguyên và Môi trường” sang “Bộ Nông nghiệp và Môi trường”, “Sở Nông nghiệp và Môi trường”, phù hợp với cơ cấu tổ chức bộ máy mới.
Đồng thời, Thông tư điều chỉnh, bãi bỏ một số cụm từ, nội dung không còn phù hợp với quy định pháp luật hiện hành; bổ sung, làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác kiểm tra, giám sát, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước. Các quy định về thời hạn cho ý kiến, gia hạn thời gian kiểm tra, trình tự kiểm tra và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan liên quan cũng được quy định cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong thực tiễn.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17/01/2026. việc xác định, phê duyệt, công bố phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, tổ chức xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh trên thực địa đang thực hiện trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư số 03/2024/TT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 14/2025/TT-BNNMT ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Trường hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường nhận được hồ sơ lấy ý kiến về phương án bổ sung nhân tạo nước dưới đất hoặc hồ sơ lấy ý kiến về kết quả vận hành thử nghiệm của công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất và việc đáp ứng yêu cầu để vận hành chính thức trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì thời gian cho ý kiến được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 03/2024/TT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.
Các kế hoạch kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước, kế hoạch kiểm tra có nội dung kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước, đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước đã ban hành, thành lập trước ngày Thông tư này có hiệu lực, thì tiếp tục thực hiện kiểm tra, xử lý kết quả kiểm tra theo quy định tại Thông tư số 04/2024/TT-BTNMT ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tài nguyên nước và thẩm định, nghiệm thu kết quả hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 14/2025/TT-BNNMT ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phân quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư trong lĩnh vực tài nguyên nước đến khi kết thúc.