Sign In

KẾT QUẢ QUAN TRẮC TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG SÊ SAN THÁNG 12 NĂM 2025

13:16 29/12/2025

Chọn cỡ chữ A a   chia sẻ facebook   chia sẻ zalo   chia sẻ zalo    

Lưu vực sông Sê San là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 2 tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai với tổng diện tích lưu vực là 11.510km2. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

 

Tài nguyên nước mặt của lưu vực sông theo tài liệu tính toán lượng mưa trung bình nhiều năm mùa mưa lưu vực sông Sê San là 1.519 mm, trong đó lượng mưa trung bình nhiều năm lớn nhất là 2.158 mm (Bảo Lộc, Lâm Đồng). Tài nguyên nước dưới đất trên lưu vực sông Sê San gồm 4 tầng chứa nước chính là tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp), tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp) và tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng vỉa các thành tạo đầm hồ trầm tích Neogen (n). Tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước q là 258.305m3/ngày, tầng chứa nước β(qp) là 165.422 m3/ngày, tầng chứa nước β(n2-qp) là 1.880.656 m3/ngày, tầng chứa nước n là 146.922 m3/ngày.

 

Tài nguyên nước mặt

 

Dự báo trong tháng 12 năm 2025,, tổng lượng tài nguyên nước mặt nội sinh trên lưu vực sông Sê San dao động trong khoảng 875 đến 1.032 triệu m3, trong đó cao nhất tại vùng Trung Sê San được dự báo từ 193 đến 224 triệu m3, thấp nhất tại vùng Sa Thầy từ 89 đến 115 triệu m3. Tổng lượng nước nội sinh theo các vùng quy hoạch có xu thế tăng khoảng 11,7% so với TBNN cùng thời kỳ.

 

Theo kết quả tính toán cân bằng nguồn nước trong tháng 12 năm 2025, trên lưu vực Sê San cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước cho các ngành.

 

Tài nguyên nước dưới đất

 

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q)

 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 11 so với tháng 10 có xu thế hạ, có 7/8 công trình mực nước hạ, 1/8 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,29m tại xã Ia Tơi, tỉnh Quảng Ngãi (LK2Tm1).

 

Trong tháng 11: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,47m tại xã Ia Chim, tỉnh Quảng Ngãi (LK132T) và sâu nhất là -8,19m tại xã Ia O, tỉnh Gia Lai (LK4Tm1).

 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 12 so với mực nước quan trắc tháng 11 có xu thế hạ, có 8/8 công trình mực nước hạ. Mực nước hạ từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở phường Kon Tum, xã Đắc Tô, xã Ia Tơi của tỉnh Quảng Ngãi . 

 

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pleistocen giữa β(qp)

 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 11 so với tháng 10 có 3/7 công trình mực nước dâng, 3/7 công trình mực nước hạ và 1/7 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 1,47m tại phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai (LK167T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,7m tại phường Thống Nhất, tỉnh Gia Lai (C3b).

 

Trong tháng 11: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,22m tại xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai (LK159T) và sâu nhất là -14,94m tại phường Thống Nhất, tỉnh Gia Lai (C3b).

 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 12 so với mực nước quan trắc tháng 11 có xu thế hạ, có 7/7 công trình mực nước hạ. Mực nước hạ từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở phường Thống Nhất, phường An Phú, phường Hội Phú của tỉnh Gia Lai.

 

Tầng chứa nước khe nứt lỗ hổng phun trào Bazan Pliocen-Pleistocen dưới β(n2-qp)

 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 11 so với tháng 10 có 5/12 công trình mực nước dâng, 5/12 công trình mực nước hạ và 2/12 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 2,13m tại xã Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai (LK10T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,22m tại xã Chư Păh, tỉnh Gia Lai (C2o).

 

Trong tháng 11: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,41m tại xã Chư Păh, tỉnh Gia Lai (C2a) và sâu nhất là -18,39m tại xã Chư Păh, tỉnh Gia Lai (LK162T).

 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 12 so với mực nước quan trắc tháng 11 có xu thế hạ, có 10/12 công trình mực nước hạ, 2/12 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Mực nước hạ từ 2,0m đến 4,0m tập trung ở xã Chư Păh, phường Pleiku của tỉnh Gia Lai.

 

Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n)

 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 11 so với tháng 10 có 5/12 công trình mực nước dâng, 4/12 công trình mực nước hạ và 3/12 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể. Giá trị dâng cao nhất là 0,85m tại xã Ia Chim, tỉnh Quảng Ngãi (LK131T) và giá trị hạ thấp nhất là 0,2m tại xã Ngọk Bay, tỉnh Quảng Ngãi (LK133T).

 

Trong tháng 11: Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,44m tại xã Đăk Hà, tỉnh Quảng Ngãi (LK138Tm1) và sâu nhất là -14,94m tại xã Đắc Hà, tỉnh Quảng Ngãi (LK139Tm1).

 

Diễn biến mực nước dưới đất trung bình dự báo tháng 12 so với mực nước quan trắc tháng 11 có xu thế hạ, có 12/12 công trình mực nước hạ. Mực nước hạ từ 0,5m đến 2,0m tập trung ở xã Đắk Mar, xã Đắc Tô, xã Ngọk Bay của tỉnh Quảng Ngãi; xã Ialy, tỉnh Gia Lai.

 

 

 

DWRM

Nội dung trong tệp đính kèm

Ý Kiến

KẾT QUẢ QUAN TRẮC TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG SRÊ PỐK THÁNG 12 NĂM 2025

Lưu vực sông Srê Pốk là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm 3 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng với tổng diện tích lưu vực là 18.230 km2.

Kết quả quan trắc tài nguyên nước lưu vực sông Mã tháng 12 năm 2025

Lưu vực sông Mã là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, bao gồm lãnh thổ của các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa và Lai Châu, với diện tích lưu vực là 17.600 km².

KẾT QUẢ QUAN TRẮC TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG KÔN – HÀ THANH THÁNG 12 NĂM 2025

Lưu vực sông Kôn – Hà Thanh là một trong những lưu vực sông ở Việt Nam, với tổng diện tích lưu vực sông là 3.809km2.