Ngày 30/10, tại Hà Nội, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã tổ chức Hội thảo “Tham vấn ý kiến về kết quả lập danh mục nguồn nước mặt bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm cần phục hồi” thuộc nhiệm vụ “Điều tra, phân loại và lập danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt trên phạm vi toàn quốc”. Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Minh Khuyến; Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia: Nguyễn Ngọc Hà, Đào Ngọc Tuấn đồng chủ trì Hội thảo.
Tham dự Hội thảo có đại diện các đơn vị thuộc Cục Quản lý tài nguyên nước, Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam, Cục Môi trường, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia và các chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước. Hội thảo được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến hơn 30 điểm cầu là đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Minh Khuyến cho biết, thực hiện Kết luận số 36-KL/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó có định hướng “đẩy nhanh việc cải tạo, phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng”. Ngoài ra, theo Nghị quyết số 24- NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cũng đặt vấn đề quản lý tài nguyên theo hướng bền vững, khắc phục tình trạng tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm môi trường.
Đặc biệt, Quyết định 1595/QĐ-TTg của Thủ tướng ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận 36-KL/TW đã cụ thể hóa chủ trương này thành nhiệm vụ quản lý nhà nước, trong đó có khắc phục ô nhiễm, kết hợp phục hồi, chống suy thoái, ô nhiễm nguồn nước và đẩy nhanh cải tạo, phục hồi các nguồn nước suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng.
Nhằm triển khai chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành đã quyết liệt triển khai xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm tạo hành lang pháp lý và các biện pháp nhằm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 34 Luật Tài nguyên nước đã quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan tổ chức lập danh mục nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm cần phục hồi; xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Đồng thời, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 Luật Bảo vệ môi trường quy định việc xử lý ô nhiễm, cải tạo, phục hồi và cải thiện môi trường nước mặt bị ô nhiễm; điểm b khoản 2 Điều 8 quy định trách nhiệm của Bộ quản lý nhà nước về môi trường trong đánh giá chất lượng nước, kiểm kê nguồn thải, đánh giá mức độ và tổ chức xử lý ô nhiễm sông, hồ liên tỉnh.
Theo Phó Cục trưởng Nguyễn Minh Khuyến, Danh mục các nguồn nước mặt sông liên tỉnh bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt là cơ sở cho việc tiếp tục rà soát hiện trạng, xác định thứ tự ưu tiên và xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi theo quy định.
Báo cáo tại Hội thảo, Đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia cho biết, ngày 9/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Văn bản số 11582/BNNMT-TNNQG gửi 57 cơ quan, đơn vị, gồm 06 bộ, 34 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 17 cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Bộ để lấy ý kiến đối với dự thảo Tờ trình, dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và dự thảo Danh mục nguồn nước mặt bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm cần phục hồi.
Theo đó, về phương pháp xác định nguồn nước cần phục hồi việc đánh giá được thực hiện theo từng nguồn nước hoặc đoạn sông, căn cứ quy định tại Điều 2 Luật Tài nguyên nước năm 2023, kết quả điều tra, quan trắc, quy hoạch và chức năng nguồn nước. Các tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt, suy thoái được đánh giá riêng biệt; một nguồn nước có thể thuộc một hoặc nhiều tình trạng.
Đối với ô nhiễm đơn vị thực hiện sử dụng chỉ số CCME WQI, kết hợp tần suất và mức độ không đạt của các thông số so với mức C tại Bảng 2 và Bảng 3 QCVN 08:2023/BTNMT. Theo bộ tiêu chí đề xuất, WQI từ 76–100: không ô nhiễm; 51– 75: nguy cơ ô nhiễm; 0–50: ô nhiễm. Kết quả được đánh giá theo phạm vi đại diện của số liệu quan trắc.
Đối với cạn kiệt sử dụng đường duy trì lưu lượng (FDC), ngưỡng Q85% và chỉ số DMR để đánh giá đối với sông một chiều. DMR ≤20%: không cạn kiệt; trên 20–40%: nguy cơ cạn kiệt; trên 40%: cạn kiệt. Trường hợp chuỗi số liệu dưới 20 năm, sử dụng bổ sung chỉ số Rmin để kiểm chứng, với ngưỡng từ 15% trở lên cần xem xét.
Còn đối với suy thoái được đánh giá tổng hợp kết quả chất lượng và số lượng nước theo ma trận CCME WQI × DMR, kết hợp thông tin thực địa khi có. Phân loại suy thoái về số lượng, chất lượng hoặc cả hai; trường hợp không ô nhiễm và không cạn kiệt thì không xác định suy thoái nếu không có căn cứ khác.
Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi về phạm vi, dữ liệu, kết quả phân loại và các nguồn nước đề xuất phục hồi.
Phát biểu kết luận Hội thảo, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia Nguyễn Ngọc Hà đánh giá cao các ý kiến góp của các đại biểu và sự chuẩn bị tài liệu kỹ lưỡng, bài bản của đơn vị chủ trì.
Tuy nhiên, Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Ngọc Hà nhấn mạnh cần làm rõ các khái niệm "ô nhiễm cục bộ theo thời điểm" (mùa khô), "theo năng lực lấy nước công trình", hoặc "theo không gian" để đảm bảo tính chính xác và thực tiễn. Cập nhật tên sông, suối, nguồn nước phù hợp với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã ban hành để đảm bảo sự liên thông, kết nối chung. Đồng thời đề nghị, các đơn vị phối hợp với ban chuyên môn của Trung tâm gấp rút hoàn thiện toàn bộ hồ sơ, báo cáo trình lãnh đạo Bộ.