Đổi mới chính sách kinh tế để khơi thông nguồn lực tài nguyên nước

16:56 28/10/2026

Chính sách kinh tế tài nguyên nước hướng tới sử dụng tiết kiệm, thúc đẩy sản xuất bền vững, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch công bằng cho mọi người dân.

 

Giá nước phải khuyến khích tiết kiệm, bảo đảm hài hòa lợi ích
 

Chia sẻ tại Tọa đàm “Kinh tế tài nguyên nước - Định đúng giá trị, sử dụng hiệu quả”, PGS.TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam cho rằng, nước là tài nguyên hữu hạn, thiết yếu đối với đời sống và sản xuất, vì vậy chính sách giá không thể vận hành hoàn toàn theo quy luật của hàng hóa thông thường. Nếu trong thương mại, mua càng nhiều thường được hưởng giá càng thấp, thì với tài nguyên nước, cơ chế này có thể khuyến khích tiêu dùng quá mức, làm gia tăng sức ép khai thác.

 

Từ thực tế đó, chuyên gia cho rằng chính sách giá cần hướng tới điều tiết nhu cầu, khuyến khích sử dụng tiết kiệm. Trong đó, áp dụng giá lũy tiến theo mức tiêu thụ là một giải pháp đáng xem xét, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt thiết yếu ở mức giá phù hợp, đồng thời tăng trách nhiệm đối với lượng nước sử dụng vượt ngưỡng.

Các chuyên gia cho rằng chính sách giá cần hướng tới điều tiết nhu cầu, khuyến khích sử dụng tiết kiệm. Ảnh: Nguyễn Thủy.

Tuy nhiên, điều chỉnh giá phải tính đến đặc thù từng nhóm sử dụng, chi phí cung cấp nước và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Nếu giá quá thấp, người sử dụng thiếu động lực tiết kiệm, doanh nghiệp chưa mặn mà đầu tư công nghệ giảm tiêu hao. Ngược lại, giá tăng nhanh có thể tạo áp lực lên chi phí sản xuất và đời sống, nhất là với hộ thu nhập thấp.

 

PGS.TS. Ngô Trí Long nhấn mạnh, chính sách thuế, phí và giá nước phải đồng thời đáp ứng ba yêu cầu: khuyến khích tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước và không tạo gánh nặng bất hợp lý cho người dân, doanh nghiệp. Do đó, công cụ kinh tế cần được thiết kế linh hoạt, phân biệt theo đối tượng và mục đích sử dụng, gắn với chất lượng dịch vụ và khả năng chi trả.

 

Ở góc độ kinh tế tài nguyên, TS. Lại Văn Mạnh, Trưởng ban Kinh tế, tài nguyên Môi trường, Viện Chiến lược Chính sách nông nghiệp và Môi trường lưu ý cần phân biệt giá dịch vụ cung cấp nước với giá trị thực của tài nguyên nước. Nếu giá dịch vụ chủ yếu phản ánh chi phí cung ứng, thì giá trị nguồn nước còn bao hàm những đóng góp đối với sản xuất, hệ sinh thái và môi trường.

 

Bởi vậy, định đúng giá trị không đồng nghĩa với tăng giá sử dụng. Quan trọng hơn là xây dựng chính sách điều tiết hợp lý, vừa bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch, vừa tạo động lực nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước lâu dài.

 

Kết hợp thuế, phí và cơ chế khuyến khích bảo vệ nguồn nước
 

Bên cạnh chính sách giá, thuế và phí là những công cụ quan trọng nhằm điều tiết hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng nghĩa vụ tài chính, mà phải tạo động lực tiết kiệm, đổi mới công nghệ và nâng cao trách nhiệm bảo vệ nguồn nước.
 

Theo PGS.TS. Ngô Trí Long, chính sách kinh tế cần gắn quyền lợi với trách nhiệm của từng chủ thể. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước phải thực hiện nghĩa vụ tài chính phù hợp; đồng thời, hoạt động gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm đối với chi phí xử lý, khắc phục tác động môi trường. Qua đó, hạn chế tình trạng lợi ích kinh tế thuộc về một chủ thể, trong khi tổn thất tài nguyên và chi phí phục hồi lại do cộng đồng gánh chịu.

Theo PGS.TS. Ngô Trí Long, chính sách kinh tế cần gắn quyền lợi với trách nhiệm của từng chủ thể. Ảnh: Thanh Thủy.

Tuy nhiên, chỉ tăng thuế, phí chưa đủ để thay đổi hành vi sử dụng nước. Chính sách cần kết hợp điều tiết với khuyến khích, tạo sự khác biệt giữa hoạt động khai thác thiếu hiệu quả và những mô hình chủ động tiết kiệm, tuần hoàn, tái sử dụng nước.

 

Chẳng hạn, doanh nghiệp đầu tư hệ thống xử lý, tuần hoàn nước không chỉ giảm chi phí đầu vào mà còn hạn chế lượng nước thải ra môi trường. Nếu được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và chính sách hỗ trợ phù hợp, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực đổi mới công nghệ, thay vì chỉ thực hiện các yêu cầu tối thiểu về bảo vệ môi trường.

 

PGS.TS. Ngô Trí Long đề xuất nghiên cứu các cơ chế tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đổi mới công nghệ, khuyến khích tái sử dụng nước và áp dụng chính sách tài chính phù hợp đối với hoạt động tiết kiệm tài nguyên. 

Trong nông nghiệp, cần thúc đẩy công nghệ tưới tiết kiệm, chuyển đổi phương thức sản xuất theo khả năng đáp ứng của nguồn nước.

 

Điều quan trọng là các cơ chế hỗ trợ phải gắn với kết quả thực chất. Hiệu quả cần được đánh giá thông qua lượng nước tiêu hao trên đơn vị sản phẩm, tỷ lệ tái sử dụng, mức giảm thất thoát và khả năng hạn chế ô nhiễm, thay vì chỉ căn cứ vào quy mô đầu tư.

 

Ở góc độ quản lý, dữ liệu hạch toán tài nguyên nước sẽ giúp nhận diện những ngành sử dụng nhiều nước, khu vực chịu sức ép khai thác và tiềm năng tiết kiệm, từ đó xây dựng chính sách điều tiết phù hợp.

 

Đo hiệu quả chính sách bằng lợi ích của người dân và doanh nghiệp
 

PGS.TS. Ngô Trí Long cho rằng, hiệu quả chính sách kinh tế tài nguyên nước không thể chỉ đo bằng số thu từ thuế, phí, mà phải được đánh giá qua lợi ích thực tế của người dân, doanh nghiệp và khả năng bảo vệ nguồn nước lâu dài. Chính sách chỉ thực sự phát huy tác dụng khi tạo chuyển biến trong hành vi sử dụng tài nguyên, đồng thời hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

 

Trước hết, đối với doanh nghiệp, các công cụ kinh tế phải tạo động lực đổi mới công nghệ, giảm thất thoát, tăng cường tuần hoàn và tái sử dụng nước. Khi lượng nước tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm giảm, doanh nghiệp không chỉ tiết kiệm chi phí đầu vào mà còn hạn chế rủi ro gián đoạn sản xuất do thiếu nước, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh.
 

Theo chuyên gia, mục tiêu không phải gia tăng nghĩa vụ tài chính đơn thuần mà là khuyến khích doanh nghiệp sử dụng ít tài nguyên hơn để tạo ra giá trị kinh tế cao hơn. Vì vậy, chính sách cần kết hợp điều tiết với hỗ trợ đầu tư, bảo đảm doanh nghiệp có động lực chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng tiết kiệm, hiệu quả.

 

Đối với người dân, yêu cầu quan trọng là bảo đảm khả năng tiếp cận nước sạch với chi phí hợp lý. Theo PGS.TS. Ngô Trí Long, giá nước phải phản ánh chi phí cung cấp hợp lý, nhưng không để những bất cập trong quản lý, vận hành trở thành gánh nặng đối với người sử dụng.

 

Đặc biệt, cần quan tâm đến hộ nghèo, người thu nhập thấp, khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và những địa bàn gặp khó khăn về nguồn nước. Bởi nước sạch không chỉ là nhu cầu sinh hoạt thiết yếu mà còn gắn trực tiếp với sức khỏe cộng đồng, chất lượng cuộc sống và cơ hội phát triển.

 

Cùng với đó, hiệu quả chính sách phải được thể hiện qua mức độ tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước. Cơ quan quản lý cần xây dựng các chỉ tiêu đánh giá cụ thể, như lượng nước tiêu hao trên đơn vị sản phẩm, tỷ lệ tái sử dụng, mức giảm thất thoát và khả năng tiếp cận nước sạch của người dân.

 

Những chỉ tiêu này giúp đánh giá chính sách đã thực sự tạo chuyển biến trong khai thác, sử dụng hay mới dừng ở việc thực hiện nghĩa vụ tài chính.

 

Từ góc nhìn kinh tế, phát triển kinh tế tài nguyên nước không đồng nghĩa với tối đa hóa nguồn thu, mà là nâng cao giá trị tạo ra từ mỗi đơn vị nước, giảm tổn thất tài nguyên và bảo đảm lợi ích công bằng, lâu dài cho cộng đồng.

 

Khi tiết kiệm nước trở thành lựa chọn có lợi về kinh tế, gây ô nhiễm đi kèm trách nhiệm tương ứng và người dân được bảo đảm tiếp cận nước sạch, các công cụ thuế, phí và giá nước mới thực sự phát huy hiệu quả, góp phần đổi mới phương thức quản trị tài nguyên nước theo hướng bền vững.

 

 

 

nongnghiepmoitruong.vn