Ngày 16/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Công văn số 11942/BNNMT-TNN đề nghị UBND các tỉnh, thành phố: Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tây Ninh, Cần Thơ, An Giang và Cà Mau khẩn trương triển khai các giải pháp chủ động ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do ảnh hưởng của El Niño, bảo đảm nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trong mùa khô năm 2026–2027.
Bộ nhấn mạnh yêu cầu triển khai các giải pháp ngay từ năm 2026, tận dụng thời điểm thuận lợi để tích trữ nước ngọt, điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp với diễn biến nguồn nước và xâm nhập mặn, nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống thủy lợi; tuyệt đối không chờ đến khi xảy ra thiếu nước mới tổ chức ứng phó.
Nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn gia tăng trong mùa khô 2026 - 2027
Theo Báo cáo số 10411/BC-BNNMT ngày 12/9/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do ảnh hưởng của El Niño cần được chủ động đánh giá và có giải pháp ứng phó từ sớm nhằm bảo đảm nước sinh hoạt, sản xuất, góp phần giữ vững an ninh lương thực và an ninh năng lượng. Trên cơ sở báo cáo và đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ngày 24/9/2026, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Văn bản số 9694/VPCP-NN thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng về việc chủ động ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do hiện tượng khí hậu này.
Tính đến ngày 15/10/2026, các hồ chứa ở thượng nguồn lưu vực sông Mê Công đã tích được khoảng 52,2 tỷ m³ nước, đạt 79,7% tổng dung tích hữu ích thiết kế. Tuy nhiên, nguồn nước từ nay đến cuối mùa lũ được dự báo có xu thế giảm dần. Dòng chảy về lưu vực sông Cửu Long trong mùa khô năm 2026–2027 có khả năng thuộc nhóm năm ít nước; xâm nhập mặn có thể xuất hiện sớm từ tháng 12/2026, với ranh mặn dự báo vào sâu hơn trung bình nhiều năm khoảng 10–20 km tại các cửa sông.
Lưu vực sông Cửu Long có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh nguồn nước quốc gia, chiếm 56,2% tổng lượng nước mặt và có nhu cầu sử dụng nước khoảng 57,6 tỷ m³/năm, tương đương 54% tổng nhu cầu cả nước. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực nhạy cảm trước những biến động của nguồn nước do phụ thuộc gần 95% vào dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công, thường xuyên chịu tác động của hạn hán và xâm nhập mặn. Những đợt hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng trong các năm 2015–2016 và 2019–2020 cho thấy mức độ dễ bị tổn thương của khu vực, trong khi khả năng điều tiết nguồn nước bằng các hồ chứa dung tích lớn còn hạn chế.
Đáng chú ý, khoảng 97,9% tổng nhu cầu nước trên lưu vực được sử dụng cho nông nghiệp, trong khi hiệu quả sử dụng nước còn thấp, giá trị nước cấu thành trong các hoạt động sản xuất chỉ đạt khoảng 0,66 USD/m³. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức quản lý, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và tăng cường khả năng chủ động ứng phó với các tình huống bất lợi về nguồn nước.
Bảo đảm nước sinh hoạt, chủ động nguồn cấp nước dự phòng
Để giảm thiểu nguy cơ thiếu nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương rà soát, cập nhật và tổ chức thực hiện phương án cấp nước an toàn theo các kịch bản nguồn nước đối với các công trình cấp nước tập trung. Các cơ quan chuyên môn cần theo dõi lượng nước tích trữ, công suất cấp nước thực tế của từng nhà máy và khu vực, đồng thời đánh giá số hộ dân có nguy cơ bị ảnh hưởng để kịp thời điều hành.
Các địa phương cần rà soát khả năng hỗ trợ cấp nước giữa các nhà máy và khu vực lân cận; giảm tỷ lệ thất thoát nước sạch; chuẩn bị phương án tích trữ, cấp nước dự phòng cho đô thị và những khu vực có nguy cơ thiếu nước cao, nhất là vùng ven biển, vùng cù lao và bán đảo Cà Mau. Chất lượng nguồn nước phục vụ sinh hoạt trên sông Tiền, sông Hậu và các kênh thủy lợi phải được theo dõi chặt chẽ.
Đối với các nhà máy khai thác nước mặt, cần xây dựng phương án ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn, xác định lượng nước có thể dự trữ, thời gian duy trì cấp nước theo từng mức công suất, nguồn nước thay thế, phương tiện vận chuyển và các điểm cấp nước tập trung. Đồng thời, tăng tần suất theo dõi độ mặn, mực nước và chất lượng nước tại các cửa lấy nước để chủ động lấy nước ngọt, bổ sung vào hồ điều tiết hoặc bể chứa trước khi độ mặn tăng cao; phối hợp với đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thủy lợi để xác định thời điểm lấy nước phù hợp.
Đối với các nhà máy khai thác nước dưới đất, cần kiểm tra công suất thực tế của từng giếng, mực nước động, chất lượng nước, tình trạng máy bơm và thiết bị xử lý; tổ chức vận hành luân phiên, tránh tập trung khai thác kéo dài tại một giếng. Các nhà máy cũng cần xác định khả năng hỗ trợ nguồn nước cho khu vực lân cận, ưu tiên cấp nước sinh hoạt tại những vùng bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.
Những công trình có nguy cơ phải dừng lấy nước hoặc không đáp ứng đủ nhu cầu cần sớm xây dựng phương án huy động nguồn thay thế, ưu tiên duy trì cấp nước cho cơ sở y tế, trường học và các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu.
Bên cạnh đó, các địa phương cần rà soát danh mục hồ thủy lợi và các hồ chứa có khả năng bổ sung nguồn nước sinh hoạt, như hồ ÔtukSa, Ô Tà Sóc, Soài So, hệ thống hồ Ông Thoại, hồ Vị Thủy, Kênh Lấp, U Minh, Rạch Giá, Láng Thé, Lạc Địa và các hồ chứa phù hợp khác, để chuẩn bị phương án khai thác khi xảy ra hạn hán, thiếu nước.
Việc rà soát, đánh giá khả năng khai thác các giếng khoan đã được bàn giao từ các đề án, dự án điều tra, đánh giá, tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất cũng cần được khẩn trương thực hiện. Các giếng dự phòng trong kế hoạch cấp nước an toàn của doanh nghiệp cấp nước, khu công nghiệp và khu kinh tế cần được kiểm tra, bảo dưỡng, sẵn sàng đưa vào sử dụng khi cần thiết. Đồng thời, các địa phương cần đánh giá và tăng cường kết nối giữa các vùng cấp nước để hỗ trợ lẫn nhau khi xảy ra thiếu hụt nguồn nước.
Bộ cũng đề nghị xem xét kết hợp hoặc luân phiên khai thác nước mặt và nước dưới đất; đánh giá khả năng tăng công suất các công trình cấp nước tập trung đô thị, nông thôn để bổ sung nguồn nước cho khu vực thiếu hụt nghiêm trọng theo quy định và điều kiện thực tế. Các địa phương cần đôn đốc hoàn thành hệ thống chuyển nước liên vùng, tiếp nhận nguồn nước thô từ công trình Trạm bơm nước thô Nhà máy nước Đồng Tâm và hoàn thành công trình hồ trữ nước Dương Đông 2 tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang. Cùng với đó, tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người dân thu gom, tích trữ và sử dụng nước mưa phục vụ sinh hoạt.

Nâng cao hiệu quả vận hành thủy lợi, chủ động tích trữ nước ngọt
Đối với hệ thống thủy lợi, Bộ yêu cầu các địa phương và đơn vị quản lý, vận hành xây dựng, cập nhật phương án điều tiết nước ứng phó El Niño trong mùa khô 2026–2027, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt. Cần xây dựng phương án điều tiết riêng cho các khu vực cuối hệ thống, vùng ven biển và những nơi có nguy cơ thiếu nguồn bổ cập nước ngọt, đặc biệt tại hệ thống Nam Măng Thít, Bắc Bến Tre và Nam Bến Tre.
Các cơ quan chức năng cần phối hợp với địa phương rà soát, đề xuất chuyển đổi cơ cấu cây trồng và bố trí thời vụ phù hợp tại những khu vực có nguy cơ thiếu nước, xâm nhập mặn cao, như Bắc Cà Mau, Long Phú – Tiếp Nhật, Gò Công và vùng mặn – ngọt thuộc hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít.
Việc vận hành liên hệ thống cần được tăng cường tại các khu vực Đồng Tháp Mười, giữa sông Tiền và sông Hậu, vùng Tây sông Hậu, hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé, Quản Lộ Phụng Hiệp và Ô Môn – Xà No. Các đơn vị phải phối hợp chặt chẽ trong điều tiết, phân phối nguồn nước, linh hoạt điều chỉnh phương thức vận hành theo diễn biến dòng chảy và xâm nhập mặn; chủ động lấy nước khi độ mặn còn trong giới hạn cho phép để tích trữ tối đa trong hệ thống.
Bộ cũng nhấn mạnh yêu cầu sớm xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ số trong quản lý, điều hành hệ thống thủy lợi thông minh, đáp ứng nhu cầu nước thực tế, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng nước, hạn chế thất thoát, lãng phí nước ngọt. Đây là giải pháp quan trọng nhằm tăng khả năng tích trữ nước trong các hệ thống hiện có, đồng thời góp phần giảm nhu cầu đầu tư xây dựng công trình mới trong tương lai. Mô hình quản lý hệ thống thủy lợi Kênh Đông – Củ Chi của Công ty TNHH MTV Quản lý khai thác dịch vụ thủy lợi Thành phố Hồ Chí Minh được nêu như một kinh nghiệm cần phát huy trong bối cảnh ứng phó El Niño.
Trong quá trình vận hành, các đơn vị cần chia sẻ dữ liệu, cập nhật thông tin về tình hình nguồn nước và thông báo thường xuyên, rõ ràng cho người dân về lịch lấy nước, điều tiết nước. Việc minh bạch thông tin giúp người dân và cơ sở sản xuất chủ động kế hoạch sử dụng nước, hạn chế thiệt hại do hạn hán và xâm nhập mặn.
Đối với các vùng trồng cây ăn quả tập trung và cây nông nghiệp có giá trị kinh tế cao tại Đồng Tháp, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ, Bộ yêu cầu tổ chức tích trữ nước ngọt trong hệ thống kênh, hồ, ao và ô bao để phục vụ mùa khô. Đặc biệt, cần quan tâm các loại cây nhạy cảm với độ mặn như sầu riêng và hoa kiểng tại vùng hạ nguồn thành phố Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp.
Các địa phương đồng thời phải rà soát kế hoạch sản xuất nông nghiệp, điều chỉnh lịch xuống giống vụ Đông Xuân và Hè Thu nhằm tránh thời kỳ xâm nhập mặn tăng cao, thiếu hụt nước ngọt; bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi và diện tích nuôi trồng thủy sản phù hợp với khả năng cung cấp nước. Tại những khu vực không bảo đảm nguồn nước, cần khẩn trương rà soát, thực hiện cắt giảm diện tích gieo trồng để hạn chế rủi ro và thiệt hại sản xuất.
Kiểm soát nguồn thải, tiết kiệm nước và tăng cường quản lý tài nguyên nước
Cùng với các giải pháp bảo đảm nguồn cấp và điều tiết nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu tăng cường kiểm soát các nguồn thải từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt vào khu vực hạ lưu sông Tiền, sông Hậu. Công tác kiểm soát cần đặc biệt chú trọng các điểm lấy nước của những nhà máy cấp nước lớn, như Trạm bơm nước thô Nhà máy nước Đồng Tâm, Nhà máy nước Cần Thơ, Nhà máy nước Cần Thơ 1, Nhà máy nước sông Hậu; đồng thời bảo vệ chất lượng nước tại các hồ chứa và hệ thống kênh thủy lợi phục vụ cấp nước sinh hoạt.
Các địa phương cần thực hiện sớm biện pháp quản lý nhu cầu, tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng nước. Trong đó, cần rà soát định mức và kế hoạch sử dụng nước của các ngành, đơn vị sử dụng nước lớn; đẩy mạnh tưới tiết kiệm, tưới luân phiên, giảm thất thoát trên hệ thống kênh dẫn; tăng cường tuần hoàn, tái sử dụng nước trong sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
Việc tiết giảm nhu cầu sử dụng nước cần được triển khai trên cơ sở dự báo nguồn nước, không chờ đến khi thiếu nước mới thực hiện. Các địa phương cần xác định trước các cấp độ tiết giảm và thứ tự ưu tiên phân bổ nước, trước hết bảo đảm nước sinh hoạt, các nhu cầu thiết yếu, yêu cầu duy trì dòng chảy môi trường và an toàn hệ thống.
Để nâng cao hiệu quả quản lý, Bộ đề nghị UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành và chính quyền cấp xã, phường, đặc khu tuyên truyền, rà soát, đôn đốc tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký và cấp phép theo quy định, trên cơ sở Văn bản số 3676/BNNMT-TNN ngày 15/4/2026 và các giải pháp tại Báo cáo số 10411/BC - BNNMT.
Đồng thời, các địa phương cần tăng cường phối hợp, cung cấp và chia sẻ thông tin, dữ liệu tài nguyên nước với Cục Quản lý tài nguyên nước để khẩn trương xây dựng, công bố kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Cửu Long; xây dựng và tổ chức thực hiện phương án điều hòa, phân phối tài nguyên nước khi xảy ra hạn hán, thiếu nước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương khẩn trương tổ chức, chỉ đạo rà soát, điều chỉnh và triển khai ngay các giải pháp trong năm 2026, chủ động chuẩn bị nguồn nước, nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành và sử dụng nước, qua đó giảm thiểu tác động của El Niño, bảo đảm an ninh nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội trên lưu vực sông Cửu Long trong mùa khô năm 2026–2027.
DWRM