Luật Tài nguyên nước năm 2023 ưu tiên phục hồi các dòng sông cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng; đồng thời mở cơ chế huy động doanh nghiệp, tổ chức tài chính và người dân tham gia. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang cụ thể hóa chính sách bằng đề án phục hồi trên các lưu vực trọng điểm.
Phục hồi dòng sông chuyển từ chủ trương sang kế hoạch hành động cụ thể
Nhiều dòng sông đi qua đô thị, khu dân cư và làng nghề đang chịu áp lực ngày càng lớn từ nước thải, trong khi nguồn nước bổ sung có xu hướng suy giảm. Vào mùa cạn, một số đoạn sông giảm mạnh dòng chảy, chất lượng nước xuống thấp, ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất và môi trường. Thực tế cho thấy, nạo vét, khơi thông hay bổ sung nước chỉ có thể tạo hiệu quả bền vững khi được thực hiện đồng thời với kiểm soát nguồn thải và vận hành công trình một cách đồng bộ.
Từ yêu cầu đó, Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã tạo cơ sở pháp lý rõ hơn cho việc phục hồi nguồn nước theo hướng có kế hoạch và theo toàn lưu vực. Chia sẻ về quy định mới này, Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Nguyễn Hồng Hiếu cho biết, Điều 34 quy định việc lập danh mục nguồn nước cần phục hồi, xây dựng kế hoạch, chương trình, đề án, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện; trong đó ưu tiên các dòng sông, đoạn sông bị cạn kiệt, mất dòng chảy hoặc ô nhiễm nghiêm trọng.
Cách tiếp cận này cho phép lựa chọn giải pháp phù hợp với từng nguyên nhân suy thoái. Với những đoạn sông thiếu nước, trọng tâm có thể là khôi phục dòng chảy, nâng cấp công trình lấy nước hoặc bổ sung nguồn. Với khu vực chịu áp lực lớn từ nước thải, cần ưu tiên thu gom, xử lý và kiểm soát nguồn xả. Ở nhiều nơi, hai nhóm giải pháp phải được triển khai song song mới có thể tạo chuyển biến lâu dài.
Ông Hiếu cũng cho biết, Luật cũng mở ra nhiều công cụ phục hồi như điều chỉnh chế độ vận hành công trình; nâng cấp hoặc xây dựng đập, hồ chứa, trạm bơm, công trình dẫn nước; nạo vét để cải thiện khả năng lưu thông dòng chảy. Tuy nhiên, các giải pháp công trình cần gắn chặt với kiểm soát ô nhiễm, tuần hoàn và tái sử dụng nước. Bổ sung nước cho sông vì vậy phải đi cùng với giảm lượng chất ô nhiễm tiếp tục đưa vào nguồn nước.
Đối với các hệ thống liên tỉnh, yêu cầu phối hợp càng trở nên quan trọng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh xây dựng danh mục, kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Cơ chế này nhằm bảo đảm các vấn đề liên quan đến nguồn thải, công trình lấy nước và khu vực chịu tác động được xem xét trong một phương án chung, thay vì tách rời theo địa giới hành chính.
Mục tiêu không chỉ dừng ở cải thiện chất lượng nước trước mắt, mà còn từng bước phục hồi chức năng của nguồn nước, hệ sinh thái và điều kiện sinh kế của người dân. Vì vậy, cách tiếp cận theo toàn lưu vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Hiệu quả phục hồi cuối cùng phải được thể hiện bằng những thay đổi có thể quan sát và đo đếm: dòng chảy được duy trì tốt hơn trong mùa cạn, lượng chất ô nhiễm giảm, nguồn xả thải được kiểm soát và chất lượng nước từng bước được cải thiện. Việc theo dõi bằng dữ liệu sẽ giúp cơ quan quản lý kịp thời điều chỉnh phương án và đánh giá sát hơn hiệu quả của từng giải pháp đầu tư.

Mở cơ chế thu hút doanh nghiệp và nguồn vốn xanh
Phục hồi dòng sông không chỉ cần đúng giải pháp kỹ thuật mà còn đòi hỏi nguồn lực đủ lớn và ổn định. Vì vậy, ông Hiếu cho biết thêm, một điểm đáng chú ý của Luật Tài nguyên nước năm 2023 là mở rộng cơ chế huy động khu vực tư nhân, tổ chức khoa học và cộng đồng cùng tham gia bảo vệ, phát triển và phục hồi nguồn nước.
Điều 4 của Luật quy định Nhà nước khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, phát triển, tích trữ nước và phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm. Đồng thời, Luật khuyến khích nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý nguồn nước, xử lý nước thải và sử dụng nước hiệu quả.
Đánh giá về quy định này, GS.TS Đào Xuân Học, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, đây là cơ sở quan trọng để thu hút khu vực tư nhân tham gia phục hồi các dòng sông. Thay vì chỉ dựa vào ngân sách nhà nước, chính sách mới tạo điều kiện huy động thêm vốn, công nghệ và năng lực quản trị từ doanh nghiệp, tổ chức khoa học và cộng đồng cho một nhiệm vụ cần nguồn lực lớn và thực hiện trong thời gian dài.
Theo đó, doanh nghiệp có thể tham gia đầu tư công trình điều tiết, hệ thống thu gom và xử lý nước thải, công nghệ quan trắc; các viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp giải pháp kỹ thuật và phương pháp đánh giá; cộng đồng dân cư tham gia bảo vệ nguồn nước, phát hiện vi phạm và giám sát quá trình phục hồi.
Cùng với mở rộng chủ thể tham gia, Luật cũng tạo cơ sở đa dạng hóa nguồn tài chính. Kinh phí phục hồi có thể được bố trí từ ngân sách nhà nước, nguồn sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp bảo vệ môi trường, vốn đầu tư phát triển, quỹ bảo vệ môi trường, khoản chi trả của đối tượng gây suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và các nguồn đóng góp hợp pháp khác.
Đáng chú ý, Điều 72 khuyến khích phát triển tín dụng xanh, trái phiếu xanh và các sản phẩm tài chính phục vụ bảo vệ, phát triển và phục hồi nguồn nước. Điều 73 cũng quy định các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ hoặc miễn, giảm tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với những hoạt động đáp ứng điều kiện theo quy định.
Từ góc độ triển khai, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh cho rừng, các đề án phục hồi hệ thống sông trọng điểm đang hướng tới thí điểm huy động nguồn lực xã hội, trong đó có hợp tác công tư. Trọng tâm là tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia những hạng mục phù hợp, đồng thời tăng cường quan trắc, giám sát và phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương, địa phương và các bên tham gia.
Tuy nhiên, thu hút được vốn mới là bước đầu. Hiệu quả phục hồi còn phụ thuộc vào khả năng vận hành sau đầu tư. Nhà máy xử lý nước thải phải gắn với mạng lưới thu gom; trạm bơm phải có nguồn điện và kinh phí hoạt động; hệ thống quan trắc phải được duy tu, kiểm định thường xuyên. Vì vậy, ngay từ khi lập dự án cần xác định rõ hạng mục đầu tư, sản phẩm đầu ra, phương án vận hành và trách nhiệm tài chính.

Phục hồi ba hệ thống sông theo hướng đồng bộ, có trọng tâm
Cùng với việc hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước năm 2023, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang cụ thể hóa nhiệm vụ phục hồi nguồn nước theo từng lưu vực. Trọng tâm hiện nay là dự thảo Đề án thí điểm phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm tại ba hệ thống Bắc Hưng Hải, Nhuệ - Đáy và Ngũ Huyện Khê.
Theo báo cáo của Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp tại cuộc họp Chính phủ ngày 4/9/2026, đề án được xây dựng với sự tham gia của các bộ, địa phương, cơ quan chuyên môn và chuyên gia. Điểm đáng chú ý là phương án phục hồi không chỉ tập trung xử lý ô nhiễm mà đồng thời giải quyết ba vấn đề liên quan trực tiếp đến nhau: thiếu dòng chảy, nước thải chưa được kiểm soát và công trình vận hành chưa đồng bộ.
Dự thảo đặt mục tiêu đến năm 2035 từng bước duy trì dòng chảy thường xuyên, ưu tiên cấp nước tự chảy khi có điều kiện. Một số phương án đang được nghiên cứu gồm bổ sung tối đa 120 m³/s từ sông Hồng vào Bắc Hưng Hải, 28 m³/s từ sông Đuống vào Ngũ Huyện Khê và 200 m³/s từ sông Đà vào hệ thống Nhuệ - Đáy.
Tuy nhiên, bổ sung nước chỉ là một phần của bài toán phục hồi. Các phương án còn phải được đánh giá về kỹ thuật, nguồn lực, khả năng vận hành, nhu cầu cấp nước, tiêu thoát nước và an toàn công trình. Quan trọng hơn, khôi phục dòng chảy phải đi cùng kiểm soát nguồn thải, nếu không chất lượng nước khó được cải thiện bền vững.
Song song với đó, Cục Quản lý tài nguyên nước đang phối hợp xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước trên cơ sở các yếu tố thủy văn, sinh thái, kinh tế - xã hội và biến đổi khí hậu. Phương pháp thống nhất sẽ giúp địa phương xác định đúng nguyên nhân, lựa chọn giải pháp và sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư trên toàn lưu vực.
Từ yêu cầu triển khai đồng bộ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh phải xác định rõ trách nhiệm, tính toán khả năng vận hành ngay từ khi chuẩn bị đầu tư và lựa chọn công trình theo mức độ cấp thiết, bảo đảm “đầu tư đến đâu phải tạo hiệu quả đến đó”.
Yêu cầu này đặc biệt quan trọng với các dự án phục hồi sông. Nhà máy xử lý nước thải sẽ khó phát huy công suất nếu thiếu mạng lưới thu gom; công trình bổ sung nước cũng khó cải thiện chất lượng sông nếu nguồn thải vẫn tiếp tục phát sinh. Vì vậy, thu gom, xử lý nước thải, bổ sung dòng chảy, vận hành công trình và quan trắc phải được bố trí trong một phương án thống nhất. Chỉ khi các hạng mục được đầu tư đúng thứ tự và vận hành đồng bộ, nguồn lực mới tạo được chuyển biến thực chất về dòng chảy và chất lượng nước.

Địa phương bắt đầu chuyển chính sách thành dự án cụ thể
Trong các địa phương liên quan, Hà Nội đang triển khai đồng thời hai hướng: xử lý ô nhiễm các sông nội đô và chuẩn bị các dự án phục hồi trên những hệ thống sông liên tỉnh. Thành phố xác định thiếu nước bổ cập và nước thải chưa được xử lý là hai nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng nước tại sông Nhuệ, sông Đáy và hệ thống Bắc Hưng Hải.
Đối với sông Nhuệ, HĐND thành phố đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án cải tạo, xử lý ô nhiễm môi trường và chỉnh trang cảnh quan với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 75.000 tỷ đồng. Thành phố đang tiếp tục lập dự án, với mục tiêu khởi công vào tháng 10/2026.
Với sông Cầu Bây, thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải, Hà Nội đã thống nhất chủ trương đầu tư dự án xử lý ô nhiễm khoảng 11.000 tỷ đồng theo phương thức đối tác công tư, loại hợp đồng BT. Thành phố từng báo cáo mục tiêu khởi công trong tháng 9/2026. Tuy nhiên, đây là mốc kế hoạch được nêu trong quá trình chuẩn bị, không đồng nghĩa dự án đã hoàn tất thủ tục hoặc đã triển khai xây dựng.
Trong giai đoạn 2026-2030, Hà Nội xác định xử lý môi trường lưu vực Nhuệ - Đáy và Cầu Bây - Bắc Hưng Hải là những nhiệm vụ cần tập trung thực hiện trước năm 2028. Song song với đó là các dự án cải tạo sông Kim Ngưu, Lừ, Sét và những tuyến sông nội đô khác.
Đối với sông Tô Lịch, thành phố đang triển khai đồng thời thu gom nước thải, vận hành hệ thống xử lý nước thải Yên Xá và nghiên cứu các giải pháp bổ cập nước. Quy hoạch chi tiết hai bên sông cũng được xây dựng theo hướng kết hợp cải thiện chất lượng nước với chỉnh trang cảnh quan và tổ chức lại không gian ven sông.
Điểm quan trọng là các hạng mục này phải được kết nối thành một chuỗi hoàn chỉnh. Thu gom và xử lý nước thải giúp giảm nguồn ô nhiễm; bổ cập nước hỗ trợ duy trì dòng chảy; quan trắc cung cấp dữ liệu để đánh giá hiệu quả; còn cải tạo không gian ven sông góp phần tạo điều kiện để cộng đồng tham gia bảo vệ nguồn nước. Chỉ khi các phần việc vận hành đồng bộ, hiệu quả phục hồi mới có thể duy trì lâu dài.

Ngoài Hà Nội, Hải Phòng báo cáo đã triển khai dự án ODA thu gom, xử lý nước thải khoảng 1.600 tỷ đồng, đồng thời chuẩn bị nhiều dự án liên quan đến hệ thống Bắc Hưng Hải. Bên cạnh đó, Hải Phòng đang triển khai các dự án xử lý nước thải tại Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, khu vực bệnh viện và các khu vực khác. Thành phố cũng đang hoàn thiện thủ tục đầu tư hệ thống kè sông Sắt. Tổng cộng có 25 danh mục dự án thực hiện trên hệ thống Bắc Hưng Hải, cùng nhiều nhà máy xử lý nước thải tại các huyện, khu dân cư tập trung.
Ninh Bình đề nghị việc phục hồi Nhuệ - Đáy phải được tính toán trên toàn hệ thống, đồng thời xem xét nhu cầu tiêu thoát nước từ Hà Nội qua địa bàn. Với Ngũ Huyện Khê, bài toán bổ sung nước cũng phải đi cùng kiểm soát nước thải đô thị, làng nghề, công nghiệp và phối hợp vận hành giữa các địa phương.
Những dự án đang được chuẩn bị cho thấy chính sách phục hồi nguồn nước đã bắt đầu được chuyển thành các nhiệm vụ cụ thể. Tuy nhiên, thước đo cuối cùng không nằm ở số lượng công trình được xây dựng hay tổng vốn đầu tư, mà ở lượng nước thải thực sự được xử lý, dòng chảy được duy trì trong mùa cạn và chất lượng nước cải thiện qua từng giai đoạn.
Khi Bộ, địa phương, doanh nghiệp và đơn vị vận hành cùng thực hiện theo một phương án thống nhất trên toàn lưu vực, nguồn lực đầu tư mới có thể phát huy hiệu quả liên tục. Đây là điều kiện để các dòng sông bị ô nhiễm, suy thoái từng bước phục hồi chức năng, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và cải thiện môi trường sống của người dân.
nongnghiepmoitruong.vn