Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Ba đến năm 2030, tầm nhìn 2050

16:07 21/09/2026

Ngày 18/9, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3652/QĐ-BNNMT phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Ba và vùng phụ cận đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

 

Phạm vi Quy hoạch bao gồm toàn bộ lưu vực sông Ba và vùng phụ cận thuộc địa giới hành chính các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, được phân chia thành 8 tiểu vùng: thượng lưu sông Ba; An Khê - Ba Ayun; trung lưu sông Ba; hạ lưu sông Ba; Ba Ayun; Sông Hinh; Krông Năng và vùng phụ cận.
 

Bảo đảm an ninh nguồn nước, quản lý tổng hợp theo lưu vực
 

Quy hoạch đặt mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước; tăng cường tích trữ, điều hòa, phân phối và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, công bằng, hợp lý, đáp ứng nhu cầu dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
 

Cùng với đó, tăng cường bảo vệ nguồn nước, phòng ngừa suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; từng bước phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
 

Một trọng tâm của Quy hoạch là quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông gắn với chuyển đổi số. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước và các công cụ hỗ trợ ra quyết định được tăng cường kết nối, chia sẻ, phục vụ đánh giá nguồn nước, giám sát thực hiện Quy hoạch và điều hòa, phân phối nguồn nước.
 

Đến năm 2030, Quy hoạch đặt mục tiêu 100% công trình khai thác, sử dụng nước được giám sát vận hành và kết nối hệ thống theo quy định; hoàn thành công bố danh mục hồ, ao, đầm, phá có chức năng điều hòa, cấp nước, phòng chống ngập úng và các giá trị sinh thái, văn hóa cần được bảo vệ; công bố khả năng chịu tải đối với 100% nguồn nước liên tỉnh quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong kỳ quy hoạch và hoàn thành lập, công bố hành lang bảo vệ nguồn nước.
 

Trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm, 100% khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp đang hoạt động được định hướng có hệ thống xử lý nước thải tập trung vận hành đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả vào nguồn nước; tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 50%.
 

Tầm nhìn đến năm 2050, công tác quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước trên lưu vực được định hướng ngày càng dựa trên nền tảng số, tiến tới điều hòa, phân phối nguồn nước và vận hành hồ chứa, liên hồ chứa theo thời gian thực. Hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định được hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị và phân bổ hài hòa nguồn nước giữa các địa phương, ngành, lĩnh vực, giữa thượng lưu và hạ lưu.
 

Phân phối nguồn nước theo khả năng và nhu cầu
 

Theo Quy hoạch, nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực dự kiến khoảng 1,73 tỷ m³/năm vào năm 2030 và 2,03 tỷ m³/năm vào năm 2050. Việc điều hòa, phân phối nguồn nước phải căn cứ khả năng nguồn nước của từng tiểu vùng, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, bảo đảm công bằng, hợp lý giữa các tổ chức, cá nhân, giữa thượng lưu và hạ lưu; đồng thời góp phần bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu.
 

Việc phân phối nước hằng năm sẽ căn cứ dự báo thời tiết, khí tượng thủy văn, diễn biến và trạng thái nguồn nước được công bố trong kịch bản nguồn nước, đồng thời không vượt ngưỡng khai thác nước mặt và nước dưới đất.
 

Đối với sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế, nước mặt được xác định là nguồn cấp chính, nước dưới đất là nguồn dự phòng tại một số khu vực. Quy hoạch định hướng ưu tiên bảo đảm nguồn nước ổn định từ sông Ba, sông Hinh, sông Kỳ Lộ, hệ thống thủy nông Đồng Cam và các nguồn nước có chức năng cấp nước sinh hoạt; tăng cường cấp nước liên vùng, đầu tư công trình tại các khu vực khó khăn, đẩy mạnh tuần hoàn, tái sử dụng và giảm thất thoát nước.
 

Đối với nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, Quy hoạch định hướng giảm tỷ lệ sử dụng nước, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tiết kiệm, hiệu quả; nâng cao năng lực lấy nước, giảm thất thoát tại các hệ thống Ayun Hạ, Ia M’lá, Đồng Cam; điều chỉnh mùa vụ, giống cây trồng, chuyển đổi cây trồng chịu hạn, tăng tích trữ nước phân tán và rà soát quy trình vận hành hồ chứa, công trình thủy lợi theo hướng đa mục tiêu.
 

Đối với thủy điện, các hồ chứa Ka Nak, Sông Ba Hạ, Krông H’Năng, Sông Hinh được định hướng khai thác hiệu quả, bền vững, đa mục tiêu; nghiên cứu nâng cao dung tích phòng lũ, vận hành linh hoạt, hài hòa giữa giảm lũ, cấp nước, phát điện và bảo đảm an ninh năng lượng. Đồng thời, bổ sung nhiệm vụ phòng, giảm lũ và cấp nước hạ du, ưu tiên cấp nước sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khi nguồn nước biến động.
 

Chủ động điều hành khi nguồn nước thiếu hụt
 

Quy hoạch xác định các phương án điều hòa, phân phối nguồn nước theo từng trạng thái nguồn nước. Trong điều kiện bình thường, phân phối nước đáp ứng nhu cầu các ngành theo hướng tiết kiệm, hiệu quả. Khi nguồn nước thiếu hoặc thiếu nghiêm trọng, thực hiện hạn chế các hoạt động sử dụng nhiều nước, điều chỉnh hạn ngạch và diện tích sản xuất nông nghiệp; vận hành linh hoạt hồ chứa; kết hợp khai thác nước mặt, nước dưới đất và điều chỉnh phân phối giữa các tiểu vùng.
 

Đối với nguy cơ hạn hán, El Niño hoặc các hình thế thời tiết bất lợi, cần chủ động tích nước sớm tại các hồ chứa lớn, sử dụng nước tiết kiệm và cắt giảm diện tích cây trồng tại những khu vực không bảo đảm nguồn nước, ưu tiên cấp nước sinh hoạt, nhất là vùng hạ lưu sông Ba.
 

Về phát triển công trình, Quy hoạch ưu tiên cải tạo, nâng cấp các công trình hiện có, phát triển công trình đa mục tiêu và các công trình liên kết, điều hòa, chuyển nước giữa các tiểu vùng. Nghiên cứu bổ sung công trình quy mô lớn tại trung lưu sông Ba, Krông Năng và vùng phụ cận; nâng cao năng lực lấy nước của hệ thống Ayun Hạ, Ia M’lá, Đồng Cam; đồng thời phát triển các hồ chứa nhỏ, tăng khả năng tích trữ và hiệu quả sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp.
 

Tăng cường bảo vệ và phục hồi nguồn nước
 

Quy hoạch định hướng phân vùng chức năng nguồn nước, làm cơ sở bảo vệ, cải tạo và phục hồi các nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng nước, xả nước thải và các hoạt động trong hành lang bảo vệ nguồn nước.
 

Trọng tâm là bảo đảm số lượng, chất lượng nguồn nước, đặc biệt đối với các nguồn cấp nước sinh hoạt cho đô thị hạ lưu sông Ba; thiết lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước và vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; kiểm soát các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm và từng bước di dời cơ sở gây ô nhiễm.
 

Việc khai thác, sử dụng nước phải bảo đảm dòng chảy tối thiểu trên sông, suối, kênh, rạch; tăng cường phòng, chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; quản lý không gian tiêu thoát nước, kiểm soát xâm nhập mặn; thu gom, xử lý nước thải đạt quy chuẩn; bảo vệ các hồ, ao có chức năng tích trữ, điều hòa, cấp nước và phòng, chống ngập úng.
 

Quy hoạch cũng chú trọng bảo vệ và phát triển nguồn sinh thủy thông qua quản lý chặt chẽ diện tích rừng, duy trì và phát triển tỷ lệ che phủ rừng, đặc biệt kiểm soát việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đầu nguồn và rừng nguyên sinh.
 

Chủ động phòng, chống tác hại do nước gây ra
 

Đối với phòng, chống tác hại do nước gây ra, Quy hoạch đề ra các giải pháp giảm thiểu hạn hán, thiếu nước, lũ lụt, ngập úng, sạt lở lòng, bờ, bãi sông và các tác động bất lợi khác.
 

Trong đó, nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, phối hợp với các giải pháp khác để góp phần giảm lũ cho hạ du và bảo đảm nguồn nước trong mùa cạn; nghiên cứu bổ sung dung tích phòng lũ tại một số hồ chứa khi có dự báo mưa, lũ trên lưu vực.
 

Quy hoạch cũng định hướng hạn chế tối đa việc cống hóa sông, suối, kênh, mương, rạch và san lấp hồ, ao, đầm, phá, góp phần giảm ngập úng nhân tạo, đặc biệt tại vùng hạ lưu sông Ba và vùng phụ cận. Các hoạt động xây dựng đô thị, khu công nghiệp, công trình giao thông và khu dân cư ven sông phải bảo đảm không cản trở dòng chảy, không gây ngập úng nhân tạo, không phát sinh nguy cơ ô nhiễm và sạt lở.
 

Cùng với đó, tăng cường điều tra, quan trắc, giám sát dòng chảy, bồi lắng, sạt lở lòng, bờ, bãi sông; quản lý hoạt động cải tạo lòng sông, xây dựng công trình thủy, khai thác cát, sỏi và các hoạt động ven sông, hồ nhằm bảo đảm ổn định lòng dẫn và chức năng của hành lang bảo vệ nguồn nước.
 

Ưu tiên lập kế hoạch chi tiết cho hạ lưu sông Ba
 

Quy hoạch xác định vùng hạ lưu sông Ba là khu vực cần ưu tiên lập kế hoạch chi tiết về điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và phòng, chống, khắc phục tác hại do nước gây ra; đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp, chính sách theo Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và nghiên cứu bổ sung các chính sách đặc thù phù hợp.
 

Các nhiệm vụ trọng tâm gồm hoàn thiện hệ thống thủy nông Đồng Cam; đầu tư công trình cấp nước dự phòng; điều tra, tìm kiếm nguồn nước ổn định cho khu vực khó khăn; nâng cao khả năng tích trữ nước; rà soát, điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa theo hướng thời gian thực; khắc phục tình trạng hạ thấp mực nước sau thủy điện An Khê; chuyển đổi sản xuất, áp dụng tưới tiết kiệm, tuần hoàn, giảm thất thoát nước.
 

Đồng thời, xây dựng hệ thống thông tin, mô hình số và công cụ hỗ trợ ra quyết định; tăng cường kết nối, giám sát khai thác, sử dụng nước; kiểm soát chất lượng nguồn nước, đánh giá khả năng chịu tải; đầu tư thu gom, xử lý nước thải; bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, nguồn sinh thủy và các khu bảo tồn.
 

Quy hoạch cũng nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sử dụng nước tiết kiệm, tuần hoàn, tái sử dụng; phát triển các giải pháp quan trắc, dự báo, cảnh báo, vận hành hồ chứa theo thời gian thực, kết nối và chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý tài nguyên nước.
 

Theo Quyết định, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm tổ chức công bố Quy hoạch; phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tuyên truyền các nội dung trọng tâm; tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát việc thực hiện; định kỳ đánh giá, rà soát, điều chỉnh Quy hoạch theo quy định và xây dựng kế hoạch thực hiện Quy hoạch.