Trước nguy cơ El Niño làm suy giảm dòng chảy, hạ thấp mực nước sông và gia tăng xâm nhập mặn trong mùa khô 2026–2027, các lưu vực sông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cần chủ động tích trữ, điều hòa và phân phối nguồn nước ngay từ mùa lũ năm 2026, ưu tiên nước sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu.
Cục Quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Báo cáo đánh giá sơ bộ nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do ảnh hưởng của El Niño và đề xuất giải pháp ứng phó nhằm bảo đảm nước sinh hoạt, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng.
Hạ tầng tương đối đồng bộ nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro
Theo báo cáo, hiện tượng El Niño đã hình thành và có khả năng đạt cường độ rất mạnh, tương đương hoặc cao hơn các đợt El Niño năm 2015 - 2016 và 2019 - 2020. Tại Việt Nam, nhiệt độ trung bình được dự báo cao hơn bình thường, nắng nóng có xu hướng gia tăng, trong khi lượng mưa có khả năng thiếu hụt, đặc biệt từ cuối năm 2026 đến đầu năm 2027 tại nhiều khu vực. Mùa mưa có khả năng kết thúc sớm, làm gia tăng nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trong mùa khô 2026 - 2027.
Nhóm lưu vực sông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ gồm Bằng Giang - Kỳ Cùng, Hồng - Thái Bình, Mã và Cả có lợi thế tương đối lớn về hạ tầng thủy lợi và hồ chứa. Tuy nhiên, trước nguy cơ El Niño tác động đến mùa khô 2026-2027, khu vực vẫn đứng trước những rủi ro đáng lưu ý đối với cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và phát điện.
Theo đánh giá của Cục Quản lý tài nguyên nước, đây là nhóm lưu vực có hệ thống hạ tầng đồng bộ hơn so với nhiều khu vực khác. Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp nằm trong phạm vi cấp nước của công trình thủy lợi đạt khoảng 50-90%; riêng lưu vực Hồng - Thái Bình có tổng dung tích các hồ chứa lớn trên 29,5 tỷ m³. Nông nghiệp sử dụng từ 85-92,5% tổng lượng nước của các ngành tại nhóm lưu vực này, trong khi thủy điện chiếm khoảng 46% công suất phát điện cả nước.
Những lợi thế trên tạo ra khả năng chống chịu nhất định trước các biến động nguồn nước. Tuy nhiên, El Niño có thể làm suy giảm dòng chảy, hạ thấp mực nước sông, gia tăng xâm nhập mặn và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lấy nước của các công trình ở hạ du.
Kinh nghiệm từ các năm 2015-2016 và 2019-2020 cho thấy mức độ suy giảm dòng chảy mùa cạn tại một số sông trong nhóm rất đáng lưu ý. Dòng chảy sông Chu từng giảm khoảng 56,4%, sông Đà 47,3%, sông Cả 46,8% và sông Mã 29,8% so với trung bình nhiều năm.
Tình trạng thiếu nước cũng có thể thể hiện ngay từ thời điểm kết thúc mùa lũ, khi các hồ chứa không tích đủ lượng nước theo thiết kế. Số liệu trong báo cáo cho thấy trong năm 2019 - 2020, hồ Sơn La thiếu khoảng 3,46 tỷ m³, tương đương 37,4% dung tích thiết kế; Thác Bà thiếu khoảng 37,4%; Cửa Đạt thiếu 50,7%; Hủa Na thiếu 30% và Bản Vẽ thiếu 17,1%.
Với nguồn nước mặt suy giảm, nguy cơ trước hết tác động đến các công trình cấp nước tập trung. Khoảng 29 triệu người tại hạ du sông Hồng, sông Mã và sông Cả phụ thuộc vào các hệ thống cấp nước có nguồn lấy từ sông, hồ hoặc hệ thống thủy lợi. Khi mực nước sông giảm, nhiều công trình có thể gặp khó khăn trong việc lấy đủ nước cả về lượng và chất lượng. Đồng thời, xâm nhập mặn và ô nhiễm có thể làm thu hẹp thêm nguồn nước đáp ứng yêu cầu cấp nước.
Đối với khu vực đồng bằng sông Hồng, một vấn đề đặc biệt đáng chú ý là tình trạng hạ thấp lòng dẫn và mực nước trên sông. Theo báo cáo, trong khoảng 20 năm qua, lòng dẫn sông Hồng hạ thấp, kéo theo mực nước suy giảm từ 3-5 m, cục bộ có vị trí 15-20 m. Điều này làm giảm khả năng lấy nước của các công trình thủy lợi, nhất là trong những thời điểm cần tập trung nước phục vụ gieo cấy vụ Đông Xuân.
Trong khi đó, các nhà máy nước dưới đất tại khu vực hạ du, tập trung chủ yếu ở Hà Nội và Hưng Yên, hiện chưa có kế hoạch sử dụng luân phiên với các nhà máy khai thác nước mặt ở quy mô phù hợp. Nếu nguồn nước mặt suy giảm nhưng nước dưới đất không được huy động hợp lý, nguy cơ thiếu nước sinh hoạt cục bộ có thể gia tăng.

Gần 800.000 ha sản xuất đứng trước sức ép nguồn nước
Theo đánh giá của Cục Quản lý tài nguyên nước, khoảng 800.000 ha diện tích sản xuất nông nghiệp tại các lưu vực sông Hồng, Mã và Cả có nguy cơ chịu tác động của thiếu nước. Trong đó, sông Hồng khoảng 500.000 ha, sông Mã khoảng 102.000 ha và sông Cả khoảng 213.000 ha.
Đối với đồng bằng sông Hồng, yêu cầu nước phục vụ đổ ải vụ Đông Xuân thường tập trung trong khoảng thời gian ngắn. Tuy nhiên, nếu mực nước sông xuống thấp, các trạm bơm có thể gặp khó khăn trong việc lấy nước. Xâm nhập mặn tại khu vực hạ du cũng có khả năng ảnh hưởng đến các hệ thống thủy lợi tại Hải Phòng, Hưng Yên và Ninh Bình.
Các lưu vực sông Mã và Cả có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, có khả năng tiếp nhận và điều tiết nước từ các hồ chứa thượng lưu. Tuy nhiên, khi nguồn nước giảm, việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và điều chỉnh lịch thời vụ sẽ có ý nghĩa quan trọng trong duy trì khả năng cấp nước.
Nguy cơ thiếu nước cũng tác động trực tiếp tới phát điện. Nhóm lưu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có vai trò quan trọng đối với hệ thống năng lượng quốc gia; riêng thủy điện chiếm khoảng 46% công suất phát điện cả nước.
Kinh nghiệm các năm hạn cho thấy thiếu nước tại hồ chứa có thể kéo theo suy giảm sản lượng điện. Trong năm 2019–2020, sản lượng điện của hồ Hòa Bình thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 45,2%, Sơn La thấp hơn 45% và Cửa Đạt thấp hơn 45,3%.
Do đó, bài toán điều tiết nguồn nước không thể chỉ đặt trong phạm vi cấp nước cho một ngành hoặc một công trình. Việc vận hành hồ chứa phải đồng thời bảo đảm nước cho hạ du, cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, duy trì dòng chảy và phục vụ phát điện.
Đây là yêu cầu quản trị theo lưu vực, trong đó các hồ chứa cần được vận hành trong mối quan hệ tổng thể, thay vì tối ưu riêng lẻ từng công trình.

Tích nước sớm, điều tiết linh hoạt
Trước nguy cơ El Niño tác động đến mùa khô 2026-2027, giải pháp quan trọng được Cục Quản lý tài nguyên nước đề xuất là chủ động điều hòa, phân phối nguồn nước từ sớm, từ xa; chuẩn bị các phương án ứng phó ngay trong những tháng cuối năm 2026.
Trước hết, các địa phương cần xây dựng phương án tích nước sớm tại các hồ chứa thủy lợi, thủy điện phù hợp với điều kiện từng lưu vực, ưu tiên cao nhất cho nước sinh hoạt. Các hồ chứa thuộc quy trình vận hành liên hồ cần được điều tiết linh hoạt, vừa bảo đảm an toàn công trình, an toàn hạ du và phòng, chống lũ, vừa tận dụng khả năng tích nước trong mùa lũ cho mùa cạn năm 2027.
Đối với các hồ vừa và nhỏ, cần rà soát khả năng tích trữ, phạm vi phục vụ và tình trạng công trình để chủ động bổ sung nguồn nước tại chỗ. Những công trình còn dư địa tích trữ cần được khai thác hợp lý, trong đó ưu tiên các nhu cầu dân sinh và sản xuất thiết yếu.
Cùng với nước mặt, cần chuẩn bị phương án sử dụng nước dưới đất như một nguồn dự phòng, nhất là tại những khu vực có hệ thống cấp nước phụ thuộc lớn vào nguồn nước mặt. Việc khai thác phải nằm trong khả năng phục hồi của từng tầng chứa nước, tránh tạo thêm áp lực suy giảm lâu dài.
Đối với cấp nước sinh hoạt, cần xây dựng phương án cấp nước an toàn cho các nhà máy khai thác trực tiếp từ sông và các công trình phụ thuộc vào nguồn nước hồ chứa. Tăng cường liên kết, kết nối mạng lưới giữa các công trình sẽ giúp nâng cao khả năng hỗ trợ khi một nguồn nước gặp sự cố hoặc suy giảm.
Trong nông nghiệp, cần rà soát diện tích có nguy cơ thiếu nước, chủ động điều chỉnh mùa vụ, cơ cấu cây trồng và lịch lấy nước theo khả năng nguồn nước thực tế; ưu tiên nguồn nước cho những vùng sản xuất có giá trị kinh tế cao và hạn chế bố trí sản xuất ở những khu vực không bảo đảm nguồn nước.
Đồng thời, phải tăng cường quan trắc cả lượng và chất lượng nguồn nước. Khi dòng chảy suy giảm, khả năng pha loãng chất ô nhiễm giảm, trong khi xâm nhập mặn có thể gia tăng. Vì vậy, bảo đảm an ninh nguồn nước phải được hiểu đồng thời là bảo đảm đủ nước, đúng thời điểm và có chất lượng phù hợp.
DWRM