Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

08:00 07/09/2026

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp vừa ký Công văn số 10045/BNNMT-KHCN gửi các đơn vị trực thuộc Bộ, tổ chức chủ trì và cá nhân chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, yêu cầu tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả triển khai các nhiệm vụ trong lĩnh vực này.

Công văn được ban hành nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS); bảo đảm các nhiệm vụ được triển khai đúng mục tiêu, đúng quy định, tiết kiệm, thiết thực, tạo ra sản phẩm có giá trị và có khả năng ứng dụng, chuyển giao vào sản xuất, quản lý nhà nước và đời sống xã hội.

Đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh

Nâng cao trách nhiệm ngay từ khâu đề xuất, thực hiện


Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu các đơn vị quản lý chuyên ngành chủ động rà soát nhu cầu thực tiễn, xác định những vấn đề cấp thiết cần giải quyết bằng KHCN, ĐMST và CĐS; ưu tiên nhiệm vụ có sản phẩm, quy trình, công nghệ, mô hình hoặc giải pháp với địa chỉ ứng dụng cụ thể. Không đề xuất nhiệm vụ trùng lặp, thiếu tính cấp thiết, không có kết quả rõ ràng hoặc không xác định được đơn vị tiếp nhận.


Trong quá trình đề xuất, xét duyệt và hoàn thiện hồ sơ, cần làm rõ vấn đề cần giải quyết, sản phẩm dự kiến, chỉ tiêu chất lượng, khả năng ứng dụng, địa chỉ tiếp nhận, chuyển giao hoặc nhân rộng, cùng hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường dự kiến.


Đối với tổ chức chủ trì và cá nhân chủ nhiệm, Bộ yêu cầu chịu trách nhiệm về tính trung thực, đầy đủ và khả thi của thuyết minh; quản lý chặt chẽ tiến độ, nội dung, kinh phí và sản phẩm. Mọi thay đổi về nội dung, sản phẩm, dự toán phải thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và quy định; không tự ý điều chỉnh mục tiêu nhiệm vụ.


Việc lập, phê duyệt và thanh quyết toán kinh phí phải tuân thủ các định mức hiện hành. Các nhiệm vụ không có khả năng tạo ra kết quả cụ thể, khó ứng dụng hoặc không phục vụ trực tiếp cho sản xuất, thương mại và quản lý cần được rà soát, xem xét dừng thực hiện.


Chuyển trọng tâm nghiệm thu sang chất lượng và hiệu quả ứng dụng


Một yêu cầu quan trọng được Bộ đặt ra là nâng cao chất lượng nghiệm thu, đánh giá và hậu kiểm. Việc nghiệm thu phải thực chất, khách quan, tập trung vào chất lượng, khả năng ứng dụng của sản phẩm so với mục tiêu và tiến độ được phê duyệt, thay vì chỉ đánh giá số lượng báo cáo, bài báo hoặc sản phẩm trung gian.


Đối với các sản phẩm có khả năng ứng dụng như giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản, quy trình kỹ thuật, công nghệ, chế phẩm, thiết bị, mô hình, phần mềm và cơ sở dữ liệu, phải xác định rõ tình trạng, chất lượng, đơn vị tiếp nhận, phương thức quản lý và kế hoạch khai thác sau nghiệm thu.


Bộ yêu cầu tăng cường hậu kiểm đối với nhiệm vụ đã nghiệm thu; kết quả ứng dụng thực tế phải trở thành một trong những căn cứ để xem xét đề xuất, tuyển chọn, giao và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo.
Quản lý chặt sản phẩm, tài sản sau nghiệm thu


Tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ và đơn vị được giao tiếp nhận có trách nhiệm quản lý, bảo quản và khai thác hiệu quả sản phẩm, tài sản hình thành từ nhiệm vụ; không để xảy ra thất thoát, hư hỏng, xuống cấp hoặc bỏ không.


Ngay sau nghiệm thu, phải thực hiện đầy đủ việc bàn giao, tiếp nhận, kiểm kê, xác định giá trị và xác lập quyền quản lý, sử dụng theo quy định về tài sản công. Đối với sản phẩm có khả năng ứng dụng trực tiếp, phải xác định rõ đầu mối quản lý, địa điểm lưu giữ và trách nhiệm duy trì, phát triển.


Hằng năm, các đơn vị phải rà soát tình trạng quản lý, sử dụng và hiệu quả khai thác; kịp thời xử lý hoặc đề xuất xử lý những sản phẩm không còn nhu cầu, không có khả năng khai thác hoặc sử dụng không hiệu quả.


Đẩy mạnh chuyển giao, nhân rộng kết quả nghiên cứu


Bộ yêu cầu gắn việc triển khai nhiệm vụ với kế hoạch ứng dụng ngay từ khâu đề xuất. Các đơn vị quản lý chuyên ngành cần phối hợp xác định nhu cầu, địa chỉ ứng dụng; lựa chọn, giới thiệu những mô hình, công nghệ, quy trình và sản phẩm có hiệu quả để đưa vào sản xuất, quản lý và nhân rộng.


Tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ được yêu cầu chủ động kết nối với doanh nghiệp, hợp tác xã, địa phương, người sản xuất, cơ sở nghiên cứu và các tổ chức có nhu cầu tiếp nhận công nghệ.


Hiệu quả ứng dụng cần được đánh giá bằng các chỉ tiêu cụ thể như quy mô áp dụng, số đơn vị tiếp nhận, mức tăng năng suất và chất lượng, tăng thu nhập, giảm chi phí, phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giá trị thương mại.


Đối với kết quả đã chứng minh hiệu quả nhưng chưa được ứng dụng hoặc nhiệm vụ đã nghiệm thu nhưng sản phẩm không phát huy hiệu quả, các đơn vị phải xác định nguyên nhân, trách nhiệm và giải pháp thúc đẩy chuyển giao, nhân rộng hoặc xử lý phù hợp.


Tăng cường kiểm tra, phòng chống lãng phí và tiêu cực


Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp về quản lý nhiệm vụ KHCN, ĐMST thuộc phạm vi được giao, nhất là kinh phí, tài sản và sản phẩm hình thành từ nhiệm vụ. Bộ yêu cầu tách bạch các khâu đề xuất, xét duyệt, thực hiện, nghiệm thu, quản lý sản phẩm và hậu kiểm; đồng thời tăng cường giám sát của hội đồng khoa học và các bộ phận chuyên môn.


Bộ sẽ tổ chức kiểm tra định kỳ, đột xuất, tập trung vào những nhiệm vụ có giá trị đầu tư lớn, nhiều sản phẩm, tài sản hoặc yêu cầu cao về ứng dụng, chuyển giao. Các trường hợp vi phạm quy định về quản lý nhiệm vụ, kinh phí, tài sản và sản phẩm sẽ được chấn chỉnh, xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo thẩm quyền.


Vụ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện; phối hợp xây dựng kế hoạch kiểm tra, tổng hợp tình hình quản lý, ứng dụng và hiệu quả khai thác sản phẩm, báo cáo lãnh đạo Bộ và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

DWRM