Phê duyệt kết quả Tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia trên địa bàn Bình Thuận (cũ)

16:26 27/08/2026

UBND tỉnh Lâm Đồng vừa ban hành Quyết định số 4206/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả thực hiện Đề án Tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (cũ).

 

Theo Quyết định, kết quả thực hiện Đề án Tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận (cũ) được phê duyệt trên cơ sở các quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2023, Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số 1383/QĐ-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025, các văn bản hướng dẫn có liên quan và Quyết định số 485/QĐ-UBND ngày 14/3/2025 của UBND tỉnh Bình Thuận (cũ) về phê duyệt đề cương, dự toán thực hiện Đề án.


Bức tranh tổng thể về tài nguyên nước được cập nhật


Kết quả kiểm kê đã tổng hợp tương đối toàn diện các nhóm thông tin về nguồn nước mặt, hiện trạng khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước trên địa bàn Bình Thuận (cũ).


Đối với nguồn nước mặt, kết quả kiểm kê xác định 68 sông, suối, kênh nguồn nước 189 hồ, ao, đầm, phá. Tổng lượng dòng chảy năm đạt khoảng 1.696,96 triệu m³, trong đó lượng nước phân bố không đồng đều theo thời gian. Các tháng mùa mưa có lượng dòng chảy cao hơn đáng kể so với các tháng đầu năm, cho thấy yêu cầu tăng cường tích trữ, điều hòa và sử dụng hiệu quả nguồn nước giữa các thời kỳ trong năm. Tổng dung tích các hồ chứa được kiểm kê đạt khoảng 1.273,88 triệu m³.


Hệ thống nguồn nước mặt của khu vực Bình Thuận (cũ) phân bố trên nhiều lưu vực, trong đó có các sông, suối thuộc lưu vực sông Đồng Nai như sông La Ngà và các phụ lưu; các lưu vực sông Lũy, Cà Ty, Phan, Dinh, Lòng Sông, Cái Phan Thiết cùng nhiều sông, suối nội tỉnh độc lập đổ ra biển. Kết quả kiểm kê đã xác định cụ thể phạm vi, chiều dài, vị trí đầu - cuối nguồn và các thông tin liên quan của từng nguồn nước, tạo cơ sở phục vụ quản lý theo nguồn nước và lưu vực sông.


Cùng với hệ thống sông, suối, các hồ chứa, ao, bàu và công trình trữ nước cũng được thống kê, phân loại theo nguồn nước khai thác, dung tích, vị trí và mục đích sử dụng. Nhiều công trình có vai trò kết hợp cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, điều tiết và tích trữ nước, góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng nước tại các địa phương.


Hơn 200 công trình khai thác, sử dụng nước mặt được kiểm kê


Một nội dung quan trọng của Đề án là kiểm kê hiện trạng khai thác, sử dụng nước mặt. Kết quả cho thấy trên địa bàn Bình Thuận (cũ) có 207 công trình khai thác, sử dụng nước mặt thuộc phạm vi kiểm kê, gồm hồ chứa, đập dâng, trạm bơm, cống, nhà máy nước và các loại công trình khác.


Trong số này có 63 hồ chứa, 24 đập dâng, 7 trạm bơm, 1 cống, 26 nhà máy nước và 86 công trình khác, trong đó có các ao, bàu được sử dụng phục vụ khai thác, điều tiết hoặc cấp nước. Tổng lưu lượng khai thác phục vụ tưới được kiểm kê khoảng 214,31 m³/giây; công suất phát điện của các công trình đạt 819.500 kW; khai thác phục vụ kinh doanh, dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp khoảng 900 m³/ngày đêm; lượng khai thác cho các mục đích khác, chủ yếu cấp nước sinh hoạt, khoảng 157.220 m³/ngày đêm.


Các số liệu này cho thấy tài nguyên nước mặt đang được khai thác cho nhiều mục đích, từ cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản đến công nghiệp, dịch vụ và phát điện. Đây cũng là cơ sở dữ liệu quan trọng để đánh giá mối quan hệ giữa khả năng nguồn nước và nhu cầu khai thác, sử dụng nước trong từng khu vực.


Đáng chú ý, trong danh mục kiểm kê có nhiều công trình cấp nước sinh hoạt quy mô lớn như Nhà máy nước Cà Giang, Nhà máy nước Hàm Thuận Bắc, hệ thống cấp nước phường Tân An và các nhà máy nước khác. Việc cập nhật đầy đủ thông tin về nguồn cấp, quy mô khai thác và phạm vi phục vụ giúp tăng cường cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý an ninh nguồn nước.


Chú trọng kiểm soát chất lượng nguồn nước


Bên cạnh số lượng và trữ lượng, Đề án cũng cập nhật hiện trạng chất lượng nước mặt thông qua chỉ số chất lượng nước tổng hợp (WQI).


Trong giai đoạn 2021-2025, số điểm quan trắc, phân tích được tổng hợp từ 32 điểm năm 2021 lên 33 điểm trong các năm 2024 và 2025. Kết quả cho thấy phần lớn các điểm được đánh giá ở mức rất tốt và tốt; một số điểm có chất lượng nước ở mức trung bình. Đáng chú ý, trong cả giai đoạn không ghi nhận điểm nào thuộc mức kém, ô nhiễm nặng hoặc ô nhiễm rất nặng theo phân loại WQI được sử dụng trong kết quả kiểm kê.


Tuy nhiên, kết quả cũng cho thấy chất lượng nước có sự biến động theo từng nguồn nước và thời điểm. Chẳng hạn, tại một số vị trí trên sông Cà Ty, giá trị WQI năm 2025 có xu hướng giảm so với một số năm trước. Đây là thông tin cần được tiếp tục theo dõi, đánh giá để kịp thời kiểm soát các nguồn gây tác động đến chất lượng nước, nhất là tại các khu vực tập trung dân cư, sản xuất, dịch vụ và đô thị.

Ảnh minh họa


Kiểm kê hoạt động xả nước thải vào nguồn nước


Song song với kiểm kê khai thác, sử dụng nước, Đề án đã thống kê các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước. Kết quả xác định 75 công trình thuộc phạm vi kiểm kê, trong đó có 20 công trình sản xuất công nghiệp, 3 công trình sinh hoạt và 52 công trình thuộc các nhóm khác như chăn nuôi, thủy sản, y tế và thương mại - dịch vụ.


Tổng lượng nước thải được kiểm kê khoảng 39.334,94 m³/ngày đêm, trong đó sản xuất công nghiệp khoảng 7.693 m³/ngày đêm, sinh hoạt khoảng 5.104 m³/ngày đêm và các nguồn khác khoảng 26.537,94 m³/ngày đêm. Trong nhóm này, nước thải từ hoạt động thủy sản chiếm tỷ trọng đáng kể.


Việc đồng thời kiểm kê cả hoạt động khai thác, sử dụng nước và xả nước thải giúp hình thành cơ sở thông tin phục vụ đánh giá đầy đủ hơn chu trình sử dụng nước, từ khai thác nguồn nước, sử dụng cho các mục đích khác nhau đến tác động trở lại đối với nguồn tiếp nhận.


Cập nhật dữ liệu, tăng cường quản lý nguồn nước


Theo Quyết định số 4206/QĐ-UBND, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng được giao tổ chức công bố kết quả thực hiện Đề án trên các phương tiện thông tin đại chúng; báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định và cập nhật kết quả kiểm kê vào phần mềm quản lý, khai thác dữ liệu kiểm kê tài nguyên nước do Bộ cung cấp. Đồng thời, Sở có trách nhiệm chủ trì rà soát, báo cáo UBND tỉnh xem xét điều chỉnh hoặc cập nhật kết quả kiểm kê định kỳ khi có thay đổi.


Các sở, ban, ngành và UBND các xã, phường trên địa bàn Bình Thuận (cũ) được yêu cầu phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường trong quản lý chặt chẽ hiện trạng nguồn nước; kiểm soát hoạt động khai thác, sử dụng nước và giám sát hoạt động xả nước thải vào nguồn nước theo quy định.


Việc hoàn thành và phê duyệt kết quả Tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia trên địa bàn Bình Thuận (cũ) là bước quan trọng trong hoàn thiện hệ thống thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước. Các kết quả kiểm kê không chỉ phản ánh hiện trạng nguồn nước và hoạt động khai thác, sử dụng nước tại thời điểm kiểm kê mà còn tạo nền tảng để các cơ quan quản lý tiếp tục theo dõi biến động, cập nhật dữ liệu và nâng cao hiệu quả quản lý.


Đặc biệt, việc cập nhật kết quả kiểm kê vào hệ thống dữ liệu tài nguyên nước góp phần tăng cường quản lý dựa trên thông tin và dữ liệu, hỗ trợ quá trình điều hòa, phân phối, khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước phù hợp với khả năng nguồn nước và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

DWRM