Chiều 21/8, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Kôn - Hà Thanh thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Thừa ủy quyền Chủ tịch Hội đồng, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội đồng, chủ trì cuộc họp.
Tham dự cuộc họp có các Ủy viên phản biện, Ủy viên Hội đồng; đại diện các Bộ: Xây dựng, Công Thương, Tài chính, Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai; đại diện các đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên nước.
Lưu vực Kôn - Hà Thanh đối mặt nhiều sức ép về nguồn nước
Báo cáo dự thảo Quy hoạch tại cuộc họp, đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cho biết, lưu vực sông Kôn - Hà Thanh và vùng phụ cận nằm ở sườn Đông dãy Trường Sơn, thuộc vùng Duyên hải miền Trung, có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của khu vực.
Lưu vực sông Kôn - Hà Thanh có tổng diện tích khoảng 3.809 km², thuộc địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Quảng Ngãi. Trong đó, phần diện tích thuộc tỉnh Gia Lai chiếm khoảng 99,8% diện tích lưu vực; phần còn lại thuộc khu vực xã Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, chủ yếu nằm trong khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn. Vùng phụ cận nằm về phía Đông - Bắc lưu vực, thuộc địa phận 27 xã của tỉnh Gia Lai, với tổng diện tích khoảng 2.573 km².
Theo đánh giá, tổng lượng nước mặt trên lưu vực khoảng 5,3 tỷ m³. Tuy nhiên, nguồn nước phân bố không đồng đều cả về không gian và thời gian. Mùa lũ chiếm khoảng 70% tổng lượng dòng chảy năm, trong khi mùa kiệt chỉ chiếm khoảng 30%. Lượng nước bình quân đầu người trong mùa cạn khoảng 2.000 m³/người, dẫn đến nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số khu vực.
Nguồn nước dưới đất có thể khai thác ổn định khoảng 0,25 tỷ m³, chiếm khoảng 7% lượng nước có thể khai thác, sử dụng trên toàn lưu vực. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận nguồn nước tại các khu vực miền núi cao, vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế.
Trong bối cảnh đó, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những tác động từ hoạt động khai thác, sử dụng nước đang làm gia tăng áp lực đối với cân bằng nguồn nước. Lưu vực cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức về bảo đảm an ninh nguồn nước, trong đó nổi bật là tình trạng phân bố nguồn nước không đồng đều, hạn hán, xâm nhập mặn và thiếu nước sinh hoạt tại một số khu vực.
Đáng chú ý, lưu vực hiện chưa có quy hoạch tổng hợp, trong khi đây là cơ sở quan trọng để định hướng và tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch có khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
Bên cạnh đó, tác động của hệ thống hồ chứa thủy điện, thủy lợi kết hợp với biến đổi khí hậu cũng ngày càng phức tạp. Trong khoảng 30 năm qua, mực nước biển được đánh giá tăng khoảng 12-15 cm, góp phần làm gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn. Năm 2019, nhiều hồ chứa trên lưu vực xuống dưới mực nước chết, trong khi các công trình thủy lợi chỉ bảo đảm tưới khoảng 50% diện tích đất canh tác tại một số vùng trọng điểm.
Vào mùa khô, mực nước sông Kôn và một số sông chính có xu hướng hạ thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng khai thác nước. Tại vùng sâu, vùng xa, tình trạng khan hiếm nước sinh hoạt vẫn còn phổ biến, người dân phải phụ thuộc nhiều vào nước mưa và nước dưới đất.
Bên cạnh đó, việc khai thác, sử dụng nước tại một số nơi còn chưa hiệu quả; một số công trình chưa vận hành đúng thiết kế, trong khi năng lực tích trữ của một số hồ chứa mới đạt khoảng 75,7% năng lực thiết kế. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả tích trữ, điều hòa, phân phối và sử dụng nguồn nước trên toàn lưu vực.
Từ thực trạng trên, việc lập và phê duyệt Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Kôn - Hà Thanh thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được xác định là cần thiết, nhằm tạo cơ sở quản lý thống nhất, nâng cao hiệu quả sử dụng nước, phục hồi nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Quản lý nguồn nước theo lưu vực, hài hòa lợi ích thượng - hạ lưu
Theo đơn vị lập Quy hoạch, quan điểm xuyên suốt là quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước theo hướng tổng hợp, thống nhất trên toàn lưu vực sông, bảo đảm sự liên kết giữa số lượng và chất lượng nước, nước mặt và nước dưới đất, thượng lưu và hạ lưu, liên vùng và liên tỉnh.
Nguồn nước được xác định là yếu tố cốt lõi trong quy hoạch phát triển. Việc khai thác, sử dụng nước phải chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; gắn sử dụng nước với tài nguyên đất và các tài nguyên thiên nhiên khác; đồng thời bảo đảm phù hợp với các quy hoạch quốc gia, vùng và tỉnh.
Một định hướng quan trọng là tích trữ, điều hòa và phân phối nguồn nước linh hoạt, tôn trọng quy luật tự nhiên, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và đa mục tiêu. Việc phân bổ nguồn nước phải bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương và giữa thượng lưu với hạ lưu.
Cùng với đó, Quy hoạch đặt yêu cầu bảo vệ chức năng của nguồn nước, bảo vệ nguồn sinh thủy, chủ động phòng ngừa, giảm thiểu tác hại do nước gây ra, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng và an ninh.
Hướng tới các mục tiêu cụ thể đến năm 2030
Mục tiêu tổng quát của Quy hoạch là bảo đảm an ninh nguồn nước trên lưu vực; tích trữ, điều hòa, phân bổ tài nguyên nước công bằng, hợp lý; khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả gắn với bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên nước.
Nguồn nước phải đáp ứng nhu cầu dân sinh, phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, thảm phủ thực vật và đa dạng sinh học. Đồng thời, tăng cường phòng, chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước và tác hại do nước gây ra; từng bước phục hồi những nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm.
Một định hướng khác là đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên nước, xây dựng và vận hành hệ thống thông tin, dữ liệu tài nguyên nước, bảo đảm kết nối với hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường và dữ liệu của các ngành có khai thác, sử dụng nước.
Đến năm 2030, Quy hoạch hướng tới tích trữ, điều hòa và phân bổ nguồn nước hợp lý, hài hòa lợi ích giữa các địa phương, tiểu vùng và các đối tượng sử dụng nước; nâng cao giá trị kinh tế của nước, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cùng với bảo đảm số lượng, Quy hoạch chú trọng bảo vệ chất lượng nguồn nước, hành lang bảo vệ nguồn nước, nguồn sinh thủy và các nguồn nước có giá trị về đa dạng sinh học, lịch sử, văn hóa. Hoạt động xả nước thải từ sản xuất và sinh hoạt phải được kiểm soát, không làm ảnh hưởng đến chức năng của nguồn nước.
Quy hoạch cũng đặt mục tiêu bảo đảm lưu thông dòng chảy, phòng chống sạt lở bờ, bãi sông, giảm thiểu tác hại do nước gây ra và phòng, chống sụt lún mặt đất; từng bước phục hồi các nguồn nước mặt suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nghiêm trọng và phục hồi mực nước dưới đất tại các khu vực suy giảm quá mức.
Một số chỉ tiêu đáng chú ý đến năm 2030 gồm: 60% vị trí duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông được giám sát, có lộ trình giám sát tự động, trực tuyến phù hợp; 100% nguồn nước liên tỉnh được công bố khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải; 80% công trình khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước được giám sát, kết nối hệ thống theo quy định.
Quy hoạch cũng hướng tới quản lý chặt chẽ 100% hồ, ao có chức năng điều hòa hoặc có giá trị cao về đa dạng sinh học, lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng; cắm mốc 50% nguồn nước thuộc đối tượng phải cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước; bảo đảm 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Đối với nước thải sinh hoạt, mục tiêu là thu gom, xử lý đạt quy chuẩn môi trường khoảng 50% nước thải sinh hoạt tại các đô thị loại II. Đồng thời, bảo vệ nguồn sinh thủy, duy trì và phát triển rừng, hướng tới tỷ lệ che phủ rừng đạt 66% diện tích.
Tầm nhìn đến năm 2050: Quản trị thông minh, chủ động ứng phó
Tầm nhìn đến năm 2050 hướng tới duy trì và phát triển tài nguyên nước, điều hòa, phân phối nguồn nước bảo đảm an ninh nguồn nước và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời bảo vệ các di sản, di tích lịch sử, văn hóa gắn với nguồn nước.
Hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước từng bước được thực hiện theo phương thức trực tuyến, dựa trên nền tảng quản trị thông minh. Công tác giám sát, điều hành nguồn nước được tăng cường, hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định kịp thời trước những biến động về nguồn nước.
Quy hoạch cũng hướng tới kiểm soát hiệu quả sạt lở bờ sông, suối; kiểm soát cao độ đáy sông và hoạt động khai thác cát, sỏi lòng sông; từng bước bố trí lại dân cư ven sông tại những khu vực có nguy cơ cao, đồng thời nâng cao giá trị cảnh quan ven sông.
Đối với ngập úng do mưa, lũ, các giải pháp công trình và phi công trình, trong đó có công trình trữ nước tại vùng ngập, vùng trũng, sẽ được nghiên cứu và triển khai phù hợp. Các chỉ tiêu quản lý tổng hợp tài nguyên nước tiếp tục được nâng cao, hướng tới bảo đảm an ninh nguồn nước và nâng cao giá trị sử dụng nước.
Đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cho biết, Dự thảo Quy hoạch tập trung vào các nội dung chính gồm: xác định chức năng nguồn nước; quản lý, bảo vệ, phát triển, điều hòa và phân bổ nguồn nước; bảo đảm dòng chảy tối thiểu; nguồn nước dự phòng cấp cho sinh hoạt tại các khu vực có nguy cơ ô nhiễm; công trình điều tiết, khai thác, sử dụng và phát triển nguồn nước; bảo vệ tài nguyên nước; phòng, chống sạt lở bờ, bãi sông và sụt lún đất do khai thác nước dưới đất; xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên nước, khai thác, sử dụng và chất lượng nước.
Tại cuộc họp, các thành viên Hội đồng và chuyên gia tập trung góp ý nhằm nâng cao tính thống nhất, khả thi của dự thảo. Trong đó, yêu cầu rà soát, đồng bộ Quy hoạch với Quy hoạch tài nguyên nước, các quy hoạch tỉnh Gia Lai, Quảng Ngãi và các quy hoạch ngành có liên quan, bảo đảm tương thích, tránh chồng chéo, xung đột.
Các ý kiến cũng đề nghị làm rõ hơn định hướng điều hòa, phân phối và bảo vệ nguồn nước; gắn ưu tiên cấp nước sinh hoạt với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các hoạt động sử dụng nước có giá trị kinh tế cao.
Đối với phương án phân bổ nước, Hội đồng đề nghị làm rõ phương pháp và độ tin cậy của mô hình cân bằng - phân bổ nước, nhất là mối liên hệ giữa dòng chảy, vận hành hồ chứa, khai thác, sử dụng nước và các dòng chuyển nước vào, ra lưu vực.
Đồng thời, cần rà soát cơ sở xác định các khu vực ưu tiên lập kế hoạch chi tiết phòng, chống và khắc phục tác hại do nước gây ra, bảo đảm xem xét đầy đủ các nguy cơ lũ, ngập lụt, ngập úng, hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn.
Một yêu cầu quan trọng được đặt ra là làm rõ thứ tự ưu tiên phân bổ nước trong tình huống thiếu nước nghiêm trọng, căn cứ, điều kiện áp dụng và cơ chế quyết định đối với từng tình huống cụ thể. Đây là nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng ứng phó và bảo đảm an ninh nguồn nước của lưu vực trong điều kiện biến đổi khí hậu.
Hội đồng cũng đề nghị rà soát các nội dung bảo vệ hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh và các điểm, khu du lịch phụ thuộc vào nguồn nước; đồng thời cập nhật đầy đủ địa danh theo mô hình đơn vị hành chính 2 cấp.
Phát biểu kết luận cuộc họp, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh đánh giá cao các ý kiến của thành viên Hội đồng và các chuyên gia, đồng thời đề nghị đơn vị tư vấn và các đơn vị chuyên môn nghiên cứu, tiếp thu, giải trình và tiếp tục hoàn thiện dự thảo Quy hoạch.
Cục trưởng yêu cầu rà soát đồng bộ các quy hoạch, bảo đảm phù hợp với Quy hoạch tài nguyên nước, các quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh có liên quan. Đồng thời, cần xác định rõ hiện trạng và nhu cầu khai thác, sử dụng nước trên lưu vực; rà soát kỹ các nội dung về dòng chảy tối thiểu, danh mục công trình và chức năng nguồn nước trong dự thảo.
Trên cơ sở kết quả biểu quyết, Hội đồng thống nhất thông qua hồ sơ Quy hoạch với yêu cầu tiếp thu, chỉnh sửa và hoàn thiện.
Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đề nghị cơ quan lập Quy hoạch khẩn trương hoàn thiện hồ sơ trên cơ sở đầy đủ ý kiến của Hội đồng, bảo đảm Quy hoạch sau khi được phê duyệt thực sự trở thành công cụ quản trị nguồn nước có tính khả thi, có khả năng điều hòa, phân phối, bảo vệ và phục hồi nguồn nước; đồng thời xác định rõ trách nhiệm và nguồn lực thực hiện.
DWRM