Điều chỉnh Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Trà Khúc: Tăng dung tích phòng lũ, nâng cao tính chủ động

14:00 14/08/2026

Sáng 14/8, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức cuộc họp tham vấn, lấy ý kiến đối với dự thảo điều chỉnh Quy trình vận hành liên hồ chứa (QTVHLHC) trên lưu vực sông Trà Khúc. Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh chủ trì cuộc họp.

 

Tham dự cuộc họp có đại diện Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương; các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; UBND, Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng; các đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa thuộc QTVHLHC trên lưu vực sông Trà Khúc; các đơn vị quản lý, vận hành hệ thống công trình thuộc quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Trà Khúc cùng các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh chủ trì cuộc họp

Điều chỉnh quy trình để đáp ứng yêu cầu thực tiễn

 

Phát biểu tại cuộc họp, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh cho biết, QTVHLHC trên lưu vực sông Trà Khúc được Thủ tướng Chính phủ ban hành lần đầu tại Quyết định số 1463/QĐ-TTg ngày 21/8/2014, chỉ quy định vận hành trong mùa lũ. Đến Quyết định số 1840/QĐ-TTg ngày 29/10/2015, quy trình được điều chỉnh, bổ sung, quy định vận hành cho cả mùa lũ và mùa cạn. Sau thời gian áp dụng thực tiễn, quy trình tiếp tục được sửa đổi, bổ sung một số hồ chứa thủy lợi, thủy điện trên lưu vực tại Quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 25/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Quy trình 911).

 

Quy trình 911 đã thiết lập các nguyên tắc và thứ tự ưu tiên phối hợp vận hành giữa 5 hồ chứa lớn, quan trọng trên lưu vực sông Trà Khúc, gồm Đakđrinh, Nước Trong, Sơn Trà 1, Đăk Re và Sơn Tây. Việc vận hành liên hồ nhằm góp phần cắt, giảm lũ cho hạ du, bảo đảm hiệu quả cấp nước, phát điện, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước ở hạ du và duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông, trên cơ sở điều kiện thực tế của lưu vực, thông số kỹ thuật công trình, tổng dung tích đón lũ của các hồ và các quy định pháp luật về an toàn đập, hồ chứa, phòng, chống thiên tai.

 

Sau nhiều năm triển khai, Quy trình 911 đã góp phần quan trọng trong việc phối hợp vận hành các hồ chứa, cắt, giảm lũ cho hạ du, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân, phát triển kinh tế - xã hội địa phương và góp phần bảo đảm an ninh năng lượng.

 

Tuy nhiên, thực tiễn diễn biến thiên tai, nguồn nước và nhu cầu khai thác, sử dụng nước đang đặt ra những yêu cầu mới. Biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ xuất hiện mưa, lũ cực đoan; trên lưu vực sông Trà Khúc đã xuất hiện những trận lũ lớn, đặc biệt lớn, lũ lịch sử. Tại một số khu vực, cường độ mưa lũ đã vượt khả năng chống chịu của hệ thống hạ tầng phòng, chống thiên tai.

 

Mặt khác, trong mùa cạn, nguy cơ thiếu hụt nguồn nước ngày càng gia tăng và diễn biến khó dự báo. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và duy trì dòng chảy tối thiểu cũng ngày càng lớn.

 

Trong bối cảnh đó, các chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thời gian qua đều nhấn mạnh yêu cầu ưu tiên dành dung tích hồ chứa để cắt, giảm lũ cho hạ du, đồng thời phải vận hành linh hoạt, hài hòa với nhiệm vụ cấp nước, phát điện và bảo đảm an ninh năng lượng.

 

“Chính vì vậy, việc rà soát, điều chỉnh tổng thể, toàn diện QTVHLHC trên lưu vực sông Trà Khúc là hết sức cần thiết nhằm cân đối, hài hòa giữa nhiệm vụ bảo đảm cắt, giảm lũ, an toàn hạ du trong mùa lũ với nhiệm vụ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ để cắt lũ cho hạ du nhưng vẫn phải bảo đảm vận hành linh hoạt, phù hợp với diễn biến thời tiết, biến đổi khí hậu và các ràng buộc trong vận hành hệ thống điện, thị trường điện”, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh.

Đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia báo cáo dự thảo điều chỉnh Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Trà Khúc

Bổ sung hồ, đập tham gia vận hành liên hồ

 

Báo cáo tại cuộc họp, đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia - đơn vị tư vấn xây dựng dự thảo cho biết, nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình sửa đổi, bổ sung QTVHLHC là bám sát chỉ đạo của Đảng, Chính phủ về nâng cao tính linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành, nâng cao hiệu quả vận hành hồ chứa và ưu tiên dung tích hồ để cắt, giảm lũ cho hạ du.

 

Theo đó, thứ tự ưu tiên trong mùa lũ được xác định là bảo đảm an toàn công trình; góp phần giảm lũ cho hạ du; bảo đảm hiệu quả cấp nước, phát điện và dòng chảy tối thiểu trên sông. Trong mùa cạn, thứ tự ưu tiên là bảo đảm an toàn công trình; bảo đảm nhu cầu sử dụng nước ở hạ du và dòng chảy tối thiểu trên sông; bảo đảm hiệu quả cấp nước, phát điện, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng quốc gia.

 

Dự thảo cơ bản kế thừa các nguyên tắc, thứ tự ưu tiên và cơ chế phối hợp vận hành hồ chứa trong mùa lũ, mùa cạn của Quy trình 911, đồng thời bổ sung các quy định cụ thể đối với tình huống bất thường, khẩn cấp; tăng tính linh hoạt và thẩm quyền của người ra quyết định vận hành, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng dung tích phòng lũ và đáp ứng yêu cầu cấp nước hạ du.

 

Một nội dung đáng chú ý là đề xuất mở rộng danh mục công trình tham gia QTVHLHC. Hiện Quy trình 911 gồm 5 hồ chứa lớn là Đakđrinh, Nước Trong, Sơn Trà 1, Đăk Re và Sơn Tây. Tuy nhiên, từ khi Quy trình 911 được ban hành, trên lưu vực đã xuất hiện và đang xây dựng thêm nhiều công trình có khả năng tác động đến chế độ dòng chảy mùa lũ và mùa cạn.

 

Các công trình được đề xuất bổ sung gồm 6 hồ: Sơn Trà 1C, Ba Vì, Thượng Sơn Tây, Đăk Đrinh 2, Trà Khúc 1 và Trà Khúc 2; cùng 2 đập là Thạch Nham và Đập dâng hạ lưu sông Trà Khúc.

 

Việc bổ sung các công trình này nhằm tạo cơ sở pháp lý để phối hợp vận hành thống nhất với các hồ Đakđrinh, Nước Trong và các công trình khác trên lưu vực, góp phần nâng cao hiệu quả cắt, giảm lũ cho hạ du và điều tiết, cấp nước phục vụ sản xuất.

Ông Đặng Trần Huân - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi phát biểu tại cuộc họp

Tăng dung tích phòng lũ, chủ động ứng phó lũ lớn

 

Một nội dung quan trọng khác của dự thảo là điều chỉnh thời kỳ vận hành mùa lũ, mùa cạn. Theo đề xuất, mùa lũ được xác định từ ngày 1/9 đến ngày 31/12, kéo dài hơn 15 ngày so với Quy trình 911; mùa cạn từ ngày 1/1 đến ngày 31/8.

 

Thời kỳ mùa lũ được chia thành 3 giai đoạn gồm: lũ sớm từ ngày 1/9 đến 30/9; lũ chính vụ từ ngày 1/10 đến 4/12; lũ muộn từ ngày 5/12 đến 31/12. Việc phân kỳ nhằm phản ánh sát hơn xu thế xuất hiện lũ trong những năm gần đây, đồng thời tạo cơ sở để vận hành hồ phù hợp với từng thời kỳ, vừa chủ động phòng lũ, vừa bảo đảm nguồn nước cho hạ du.

 

Dự thảo cũng đề xuất hạ mực nước cao nhất của các hồ trong mùa lũ và mực nước đón lũ thấp nhất, qua đó tạo thêm “không gian” chứa nước, nâng cao khả năng chủ động cắt, giảm lũ.

 

Cụ thể, mực nước cao nhất trong điều kiện bình thường được đề xuất hạ 0,5 m đối với hồ Đakđrinh và Nước Trong trong thời kỳ từ ngày 1/9 đến 4/12. Mực nước đón lũ thấp nhất được đề xuất hạ 1 m đối với hồ Đakđrinh trong thời kỳ từ ngày 1/9 đến 30/9; hạ 1 m đối với hồ Đakđrinh và Nước Trong trong thời kỳ từ ngày 1/10 đến 4/12; và hạ 0,5 m đối với hai hồ trong thời kỳ cuối mùa lũ.

 

Theo tính toán, phương án điều chỉnh có thể làm tăng tổng dung tích phòng lũ của hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Trà Khúc khoảng 7,77 - 15,54 triệu m³, tùy từng thời kỳ vận hành. Qua đó, hệ thống hồ có thêm không gian trữ nước để chủ động ứng phó với các trận lũ lớn, giảm áp lực xả nước về hạ du và nâng cao khả năng bảo đảm an toàn vùng hạ lưu.

 

Để tăng khả năng cắt, giảm lũ trong những tình huống đặc biệt, dự thảo cũng bổ sung quy định cho phép Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định hạ mực nước hồ xuống thấp hơn giá trị mực nước đón lũ khi cần thiết.

Đại diện Công ty Cổ phần Thủy điện Đakdrinh phát biểu ý kiến tại cuộc họp

Bổ sung cơ chế vận hành trong tình huống bất thường, khẩn cấp

 

Trước yêu cầu ứng phó với những diễn biến thời tiết cực đoan, dự thảo đề xuất bổ sung một chương riêng về vận hành hồ chứa trong các tình huống bất thường, khẩn cấp. Các tình huống được xem xét bao gồm mưa lũ bất thường, lũ vượt thiết kế, vượt quá khả năng xả của công trình, cũng như hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng có khả năng ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng.

 

Dự thảo đồng thời đề xuất làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền của các chủ thể trong quá trình ra quyết định vận hành. Trong trường hợp xuất hiện tình huống có nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của người dân và các công trình hạ tầng quan trọng ở hạ du, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi được đề xuất xem xét, quyết định sử dụng một phần hoặc toàn bộ dung tích hồ từ mực nước dâng bình thường đến mực nước lớn nhất thiết kế để tham gia cắt, giảm lũ, nhưng phải bảo đảm an toàn đập.

 

Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Công Thương và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với UBND tỉnh trong quá trình ra quyết định vận hành. Cơ chế này nhằm tăng cường hỗ trợ chuyên môn, hạn chế tình trạng lúng túng, chậm trễ trong chỉ đạo, điều hành khi xảy ra tình huống khẩn cấp.

 

Dự thảo cũng rà soát, cập nhật các quy định về thẩm quyền, trách nhiệm để phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp và các quy định mới về phòng, chống thiên tai, phòng thủ dân sự, tình trạng khẩn cấp.

 

Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định vận hành hồ chứa phải căn cứ vào Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Trà Khúc do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố, qua đó bảo đảm an ninh nguồn nước phục vụ sinh hoạt, nhu cầu sử dụng nước tối thiểu ở hạ du, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và an toàn hệ thống điện quốc gia.

 

Các quy định liên quan đến trách nhiệm của đơn vị quản lý, vận hành nhà máy thủy điện cũng được cập nhật, trong đó yêu cầu cung cấp thông tin, kế hoạch phát điện và thực hiện theo lệnh vận hành của chủ hồ.

Đại diện Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia báo cáo giải trình nội dung góp ý của các đại biểu

Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung trao đổi về nhiều nội dung quan trọng như nhiệm vụ của các cơ quan trong tình huống bất thường, khẩn cấp; quy định về bồi thường thiệt hại do vận hành hồ; cơ chế vận hành giảm lũ và các ngưỡng vận hành; bổ sung, cập nhật công trình và đối tượng áp dụng; cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin; trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị; công tác dự báo, quan trắc và hệ thống trạm thủy văn.

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh phát biểu kết luận cuộc họp

Kết luận cuộc họp, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đánh giá cao các ý kiến đóng góp của đại diện các bộ, ngành, địa phương, chuyên gia và đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa. Theo Cục trưởng, các ý kiến tại cuộc họp là cơ sở quan trọng để cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, đánh giá và hoàn thiện dự thảo theo hướng khoa học, khả thi, sát với yêu cầu thực tiễn.

 

Cục trưởng Châu Trần Vĩnh lưu ý, lưu vực sông Trà Khúc có những đặc thù riêng, do đó quy trình vận hành liên hồ phải được tính toán linh hoạt, không thể áp dụng máy móc theo một mô hình chung. Bên cạnh nhiệm vụ bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, cần đặc biệt quan tâm nhu cầu nước cho Khu kinh tế Dung Quất và các hoạt động công nghiệp, công nghệ cao trên lưu vực.

 

Theo đó, phương án vận hành cần tính toán đầy đủ nhu cầu nước cho công nghiệp, nhất là vai trò của các công trình cấp nước lớn như hồ Nước Trong, đập Thạch Nham và hệ thống công trình cấp nước phục vụ sản xuất. Mục tiêu là hài hòa giữa yêu cầu phòng, chống lũ, bảo đảm an toàn hạ du với cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt và các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

 

“Mục tiêu cuối cùng của Quy trình là lợi ích chung của toàn lưu vực; trong đó phải ưu tiên an toàn công trình, tính mạng và tài sản của người dân, giảm lũ cho hạ du, đồng thời bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất và phát điện”, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh.

 

Cục trưởng đề nghị các đại biểu tiếp tục nghiên cứu, phối hợp gửi ý kiến góp ý để cơ quan soạn thảo tổng hợp, tiếp thu và hoàn thiện hồ sơ, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

DWRM