Sáng 13/8, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức cuộc họp tham vấn, lấy ý kiến đối với dự thảo điều chỉnh Quy trình vận hành liên hồ chứa (QTVHLHC) trên lưu vực sông Ba. Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh chủ trì cuộc họp.
Tham dự cuộc họp có đại diện Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương; các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường; UBND, Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Gia Lai; các đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa thuộc Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba; đơn vị quản lý, vận hành các hệ thống công trình liên quan cùng các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Rà soát toàn diện quy trình vận hành trước yêu cầu mới
Phát biểu tại cuộc họp, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh cho biết QTVHLHC trên lưu vực sông Ba được Thủ tướng Chính phủ ban hành lần đầu tại Quyết định số 1757/QĐ-TTg ngày 23/9/2010, trước hết nhằm điều hành trong mùa lũ. Đến ngày 7/7/2014, Quy trình được điều chỉnh tại Quyết định số 1077/QĐ-TTg, mở rộng phạm vi điều hành cho cả mùa lũ và mùa cạn. Sau quá trình áp dụng thực tiễn, Quy trình tiếp tục được sửa đổi, bổ sung một số hồ chứa thủy điện, thủy lợi và hiện được thực hiện theo Quyết định số 878/QĐ-TTg ngày 18/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ gọi tắt là Quy trình 878).
Quy trình 878/QĐ-TTg được tính toán, xây dựng và thiết lập các nguyên tắc, thứ tự ưu tiên phối hợp vận hành giữa các hồ chứa lớn, quan trọng trên lưu vực sông Ba để góp phần giảm lũ cho hạ du, đảm bảo hiệu quả cấp nước, phát điện, nhu cầu sử dụng nước ở hạ du và dòng chảy tối thiểu trên sông trên cơ sở các điều kiện của lưu vực, thông số kỹ thuật, tổng dung tích đón lũ của các hồ và các quy định của pháp luật về an toàn đập, hồ chứa, phòng, chống thiên tai.
Thực tiễn vận hành thời gian qua cho thấy cơ chế phối hợp giữa các hồ chứa trên lưu vực sông Ba đã phát huy vai trò quan trọng. Các công trình, cụm công trình thủy điện, thủy lợi có dung tích lớn như Sông Ba Hạ, Sông Hinh, Krông H’Năng, Ayun Hạ, An Khê - Ka Nak cùng các công trình thủy điện nhỏ Ia M’lá, ĐăkSrông, ĐăkSrông 2, ĐăkSrông 2A, ĐăkSrông 3A và ĐăkSrông 3B đã phối hợp điều tiết, tạo nguồn và dung tích phòng lũ, góp phần giảm lũ cho hạ du, đồng thời bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc biệt, việc phối hợp tạo nguồn, điều tiết nước của hệ thống hồ chứa với đập dâng Đồng Cam có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp cho khu vực Phú Yên trước đây, nay thuộc các phường Phú Yên, Tuy Hòa và xã Bình Kiến của tỉnh Đắk Lắk.
Tuy nhiên, trước diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp, khó lường và yêu cầu mới trong bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã hội, việc tiếp tục rà soát, điều chỉnh Quy trình 878 là yêu cầu cấp thiết.
Cục trưởng Châu Trần Vĩnh cho biết, ngày 21/11/2025, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 213-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 29/4/2026 về kế hoạch thực hiện Kết luận này, trong đó chỉ đạo trong năm 2026 thực hiện điều chỉnh các quy trình vận hành liên hồ, đơn hồ chứa thủy điện, thủy lợi, theo hướng ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ để cắt lũ cho hạ du.
Bên cạnh đó, Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 18/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm cung ứng đủ điện phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân trong thời gian cao điểm năm 2026 và giai đoạn 2027-2030 cũng giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và các bộ, cơ quan liên quan rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi các QTVHLHC trong năm 2026, bảo đảm vận hành linh hoạt, phù hợp diễn biến thời tiết, biến đổi khí hậu và các ràng buộc của hệ thống, thị trường điện.
“Việc rà soát, điều chỉnh tổng thể, toàn diện QTVHLHC trên lưu vực sông Ba là hết sức cần thiết, nhằm cân đối, hài hòa giữa yêu cầu cắt, giảm lũ, bảo đảm an toàn hạ du với nhiệm vụ góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời ưu tiên dành dung tích hữu ích của hồ để cắt lũ nhưng vẫn bảo đảm vận hành linh hoạt trước diễn biến thời tiết, biến đổi khí hậu và các yêu cầu của hệ thống điện”, Cục trưởng Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh.
Chia nhỏ thời kỳ vận hành, nâng cao dung tích phòng lũ
Báo cáo tại cuộc họp, đại diện Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển - đơn vị tư vấn xây dựng dự thảo cho biết, quá trình theo dõi, đánh giá diễn biến dòng chảy cho thấy các nhánh sông trên lưu vực Ba ngày càng có sự phân hóa rõ hơn về thời kỳ mùa lũ và mùa cạn. Do đó, dự thảo đề xuất rà soát, điều chỉnh thời kỳ vận hành theo hướng sát hơn với đặc điểm từng hồ, cụm hồ và diễn biến lũ thực tế.
Thay vì quy định một khoảng thời gian cứng cho toàn bộ mùa lũ, dự thảo chia nhỏ thời kỳ vận hành theo từng hồ, cụm hồ trên cơ sở đánh giá thời gian xuất hiện lũ và mức độ tác động đến dân cư, kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, với mục tiêu chung là bảo đảm an toàn hạ du và cắt, giảm lũ trên toàn lưu vực, thời kỳ vận hành cắt, giảm lũ được xác định thống nhất từ ngày 1/9 đến ngày 31/12.
Đối với các hồ Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông H’Năng, dự thảo đề xuất ba thời kỳ vận hành: từ ngày 1/9 đến 30/9; từ ngày 1/10 đến 19/12; và từ ngày 20/12 đến 31/12 là thời kỳ tích nước cuối mùa lũ.
Hồ Ka Nak được đề xuất vận hành theo ba thời kỳ gồm từ ngày 1/9 đến 30/9; từ ngày 1/10 đến 30/11; và từ ngày 1/12 đến 31/12 là thời kỳ tích nước cuối mùa lũ.
Đối với hồ Ia M’lá, thời kỳ vận hành mùa lũ được chia thành hai giai đoạn, từ ngày 1/9 đến 30/11 và từ ngày 1/12 đến 31/12. Hồ Ayun Hạ được chia thành ba thời kỳ, lần lượt từ ngày 1/9 đến 30/9; từ ngày 1/10 đến 14/11; và từ ngày 15/11 đến 31/12 là thời kỳ tích nước cuối mùa lũ.
Điểm đáng chú ý là dự thảo quy định đối với mỗi thời kỳ hai mực nước cao nhất mùa lũ trong điều kiện bình thường, đồng thời bổ sung mực nước đón lũ thấp nhất. Cách tiếp cận này nhằm tăng dung tích phòng lũ chủ động, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước.
Dự thảo cũng thiết lập điều kiện dừng hạ mực nước chặt chẽ, định lượng hơn nhằm khai thác tối đa dung tích đón lũ. Theo đó, hồ chỉ được chuyển sang trạng thái vận hành duy trì khi đồng thời xuất hiện hai điều kiện: mực nước tại trạm thủy văn vượt báo động II và lưu lượng đến hồ nằm trong khoảng kiểm soát quy định. Quy định này nhằm bảo đảm việc vận hành an toàn, đồng thời hạn chế nguy cơ gia tăng áp lực lũ cho khu vực hạ du.
Một nội dung mới được đề xuất là cơ chế chủ động ứng phó với lũ kép, lũ liên tiếp trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Sau khi kết thúc một chu trình cắt lũ, nếu có thông tin dự báo về đợt lũ mới có nguy cơ gây ngập lụt, các hồ được phép tiếp tục hạ mực nước để tái tạo dung tích đón lũ cho đợt tiếp theo. Qua đó, hệ thống hồ chứa có thể duy trì trạng thái chủ động hơn trước những tình huống thiên tai cực đoan.
Trong tình huống bất thường, dự thảo cũng bổ sung khả năng cho phép hồ Sông Ba Hạ hạ mực nước xuống dưới mực nước chết để tạo thêm dung tích, qua đó nâng cao hiệu quả cắt, giảm lũ cho hạ du.
Tăng hiệu quả phối hợp giữa các hồ trên cùng hệ thống
Một nội dung được dự thảo điều chỉnh là cơ chế phối hợp vận hành giữa các hồ Krông H’Năng, Ia M’lá với hồ Sông Ba Hạ. Theo phân tích của đơn vị tư vấn, khi điều tiết, nước từ Krông H’Năng và Ia M’lá được xả trực tiếp vào hồ Sông Ba Hạ. Trong Quy trình hiện hành, việc vận hành vẫn dựa trên tín hiệu mực nước tại trạm Phú Lâm, nằm ở khu vực hạ du và cách xa hồ Sông Ba Hạ. Cơ chế này có thể làm giảm hiệu quả phối hợp cắt, giảm lũ giữa các hồ.
Để khắc phục, dự thảo đề xuất việc vận hành cắt, giảm lũ đối với Krông H’Năng và Ia M’lá được xác định trực tiếp theo ngưỡng lũ đến hồ. Đồng thời, khi hồ Sông Ba Hạ đang thực hiện cắt, giảm lũ, các hồ Krông H’Năng và Ia M’lá sẽ chuyển ngay sang trạng thái xả nhỏ hơn lưu lượng đến. Việc điều chỉnh nhằm tăng khả năng hỗ trợ trực tiếp cho hồ Sông Ba Hạ trong quá trình cắt, giảm lũ.
Tương tự, đối với hệ thống Ayun Hạ, An Khê và Ka Nak, dự thảo bổ sung quy định khi hồ Sông Ba Hạ đang thực hiện cắt, giảm lũ, các hồ này sẽ chuyển sang trạng thái xả nhỏ hơn lưu lượng đến, góp phần tăng hiệu quả điều tiết và giảm lũ cho khu vực hạ du.
Điều hành cấp nước mùa cạn theo nhu cầu thực tế
Bên cạnh nhiệm vụ phòng, chống lũ, dự thảo Quy trình đã điều chỉnh việc “sử dụng nước gia tăng, bình thường” trước đây, thay thế bằng phương thức phân chia cụ thể thành 04 thời kỳ cấp nước (I, II, III và IV) dựa trên đặc tính mùa vụ thực tế của các vụ Đông Xuân và Hè Thu tại cả vùng thượng lưu và hạ lưu. Điều này giúp công tác điều tiết nước chuyển từ trạng thái quản lý tĩnh sang trạng thái chủ động bám sát biểu đồ nhu cầu sinh trưởng thực tế của cây trồng tại từng khu vực. Từ việc điều tiết lưu lượng xả linh hoạt này sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn nước cấp và nâng cao năng lực trữ nước của hệ thống.
Đáng chú ý, dự thảo đề xuất bổ sung một chương riêng về vận hành hồ chứa trong tình huống bất thường, khẩn cấp. Đây là nội dung nhằm xử lý các trường hợp mưa lũ bất thường, khẩn cấp, vượt thiết kế hoặc vượt khả năng xả của công trình, cũng như các tình huống hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng.
Dự thảo đồng thời đề xuất điều chỉnh, bổ sung quy định về thẩm quyền chỉ đạo, quyết định vận hành hồ đối với Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh; trách nhiệm của chủ hồ, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phù hợp với yêu cầu tổ chức chính quyền hai cấp và các quy định pháp luật hiện hành về phòng, chống thiên tai, phòng thủ dân sự và tình trạng khẩn cấp.
Hướng tới vận hành linh hoạt, chủ động trước biến đổi khí hậu
Theo đơn vị tư vấn, trên cơ sở chỉ đạo tại Kết luận số 213-KL/TW và Nghị quyết số 12/2026/NQ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ, dự thảo đã nghiên cứu bổ sung một số cơ chế nhằm tăng tính linh hoạt trong vận hành hồ chứa.
Cụ thể, dự thảo đề xuất cho phép sử dụng linh hoạt dung tích trên mực nước dâng bình thường và dung tích dưới mực nước đón lũ thấp nhất để cắt, giảm lũ cho hạ du trong các tình huống bất thường, khẩn cấp. Đồng thời, cho phép các hồ tích nước sớm hơn thời gian quy định vào cuối mùa lũ khi điều kiện cho phép, nhằm tận dụng nguồn nước và chủ động chuẩn bị nguồn nước cho mùa cạn năm tiếp theo.
Một đề xuất khác là cho phép chủ hồ giảm lưu lượng xả về hạ du trong ngày thứ Bảy, Chủ nhật và ngày nghỉ lễ, nhưng không quá 50% so với ngày thường, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nước và góp phần bảo đảm an ninh năng lượng.
Dự thảo cũng rà soát, cập nhật các quy định về thẩm quyền và trách nhiệm để phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp, pháp luật về phòng, chống thiên tai, phòng thủ dân sự và tình trạng khẩn cấp. Một số quy định không còn phù hợp được đề xuất bãi bỏ, trong đó có quy định liên quan đến trách nhiệm của Bộ Công Thương trong việc xem xét, đưa khỏi thị trường bán buôn điện cạnh tranh khi các hồ chứa phải điều chỉnh chế độ vận hành mùa cạn để bảo đảm mực nước theo quy định.
Đặc biệt, dự thảo bổ sung quy định vận hành hồ chứa phải căn cứ vào kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Ba do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố. Đây được xem là cơ sở quan trọng để gắn điều hành hồ chứa với khả năng thực tế của nguồn nước, bảo đảm nước cho sinh hoạt, nhu cầu sử dụng nước tối thiểu ở hạ du và góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, an toàn hệ thống điện quốc gia.
Hài hòa lợi ích, tăng cường phối hợp liên ngành
Tại cuộc họp, các đại biểu tập trung trao đổi về nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến hiệu quả vận hành hệ thống hồ chứa trên lưu vực. Trong đó, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng nước mùa cạn và làm rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan trong tình huống bất thường, khẩn cấp được đặc biệt quan tâm.
Các ý kiến cho rằng việc hạ thấp mực nước trước mùa lũ để tăng dung tích phòng lũ cần được tính toán khoa học, hài hòa giữa yêu cầu cắt, giảm lũ, bảo đảm an toàn hạ du với yêu cầu phát điện, an ninh năng lượng và quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp. Việc điều chỉnh quy trình cần đánh giá đầy đủ tác động đến hạ tầng kỹ thuật, các công trình cấp nước, thoát nước, sản xuất và khu dân cư vùng hạ du.
Bên cạnh đó, cần bổ sung, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các đơn vị quản lý hồ chứa, đơn vị cấp nước, công trình thủy lợi và chính quyền địa phương trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước. Việc chia sẻ thông tin dự báo nguồn nước, kế hoạch điều tiết, khả năng cấp nước và tình trạng vận hành hồ cần được tăng cường để các bên chủ động xây dựng phương án ứng phó, bảo đảm cấp nước an toàn và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước.
Kết luận cuộc họp, Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh đánh giá cao các ý kiến đóng góp của đại diện các bộ, ngành, địa phương, chuyên gia và đơn vị quản lý, vận hành hồ chứa. Theo Cục trưởng, các ý kiến tại cuộc họp là cơ sở quan trọng để cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, đánh giá và hoàn thiện dự thảo Quy trình, bảo đảm tính khoa học, khả thi và phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Cục trưởng Châu Trần Vĩnh đề nghị các đại biểu tiếp tục nghiên cứu, gửi ý kiến góp ý bằng văn bản để cơ quan soạn thảo tổng hợp, tiếp thu và hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
DWRM