Trong dòng chảy phát triển của đất nước bước kỷ nguyên chuyển đổi số, phát triển xanh và phát triển bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước không còn đơn thuần là câu chuyện của tài nguyên hay môi trường, mà đã trở thành vấn đề chiến lược gắn với an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh con người và sự phát triển bền vững của dân tộc.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định rõ yêu cầu bảo vệ vững chắc “an ninh nguồn nước” cùng với an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dữ liệu, an ninh mạng… Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng về quản trị tài nguyên quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cạnh tranh nguồn nước xuyên biên giới và những thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng.
Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện thể chế, chính sách về tài nguyên nước; ưu tiên bảo đảm tiếp cận nước sạch cho người dân vùng khó khăn; tăng cường điều tra, tìm kiếm nguồn nước; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị tài nguyên nước… chính là minh chứng cho năng lực lãnh đạo, hoạch định chiến lược của Đảng trong bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân, hiện thực hóa mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau”.
Đồng thời, đây cũng là minh chứng rõ nét cho việc kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới; khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong quản trị tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo đảm công bằng xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
An ninh nguồn nước - Vấn đề chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới
Nước là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, là điều kiện tiên quyết của sự sống, là yếu tố nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và ổn định dân sinh. Tuy nhiên, Việt Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ hiện hữu về mất an ninh nguồn nước: phân bố nguồn nước không đều theo không gian và thời gian; tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu; hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước; khai thác quá mức nước dưới đất; cùng những tác động từ các hoạt động phát triển ở thượng nguồn các lưu vực sông xuyên biên giới.
Từ thực tiễn đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030. Đây là văn bản có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, thể hiện tầm nhìn dài hạn của Đảng trong quản trị tài nguyên nước quốc gia.
Kết luận số 36-KL/TW nhấn mạnh mục tiêu bảo đảm số lượng, chất lượng nước phục vụ dân sinh trong mọi tình huống; mọi người dân, mọi đối tượng được tiếp cận và sử dụng nước công bằng, hợp lý; chủ động tích trữ, điều hòa nguồn nước; ứng phó hiệu quả với thiên tai liên quan đến nước và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng là đặt con người ở vị trí trung tâm của chính sách phát triển. Trong lĩnh vực tài nguyên nước, điều đó được thể hiện rõ ở yêu cầu ưu tiên bảo đảm nước sinh hoạt cho người dân, đặc biệt là người dân vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế.
Đây không chỉ là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà còn là biểu hiện sinh động của bản chất nhân văn, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; là sự cụ thể hóa tư tưởng “lấy dân làm gốc”, phát triển vì con người và không hy sinh công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng đơn thuần.

Luật Tài nguyên nước năm 2023 - Bước phát triển mới trong thể chế hóa chủ trương của Đảng
Một trong những dấu ấn nổi bật trong công tác hoàn thiện thể chế thời gian qua là việc xây dựng và ban hành Luật Tài nguyên nước năm 2023. Đây là bước tiến quan trọng trong việc thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo đảm an ninh nguồn nước trong tình hình mới.
Luật đã bổ sung nhiều chính sách mang tính nhân văn, ưu tiên mạnh mẽ cho các vùng khó khăn và đối tượng dễ bị tổn thương. Khoản 2 Điều 4 quy định, Nhà nước ưu tiên đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác nguồn nước, tích trữ nước; có chính sách ưu đãi đối với các dự án cấp nước sinh hoạt, sản xuất cho người dân vùng khan hiếm nước ngọt, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Đặc biệt, Luật khẳng định rõ quan điểm bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch cho người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và các đối tượng dễ bị tổn thương khác. Điều này cho thấy tư duy quản trị tài nguyên nước đã có bước chuyển mạnh từ “quản lý tài nguyên” sang “quản trị công bằng tài nguyên”, lấy con người làm trung tâm phục vụ.
Luật cũng quy định cụ thể trách nhiệm của chính quyền địa phương trong bảo vệ nguồn nước sinh hoạt; tăng cường quan trắc, công bố thông tin chất lượng nước; cảnh báo hiện tượng bất thường về chất lượng nguồn nước; kiểm soát các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm.
Đáng chú ý, nhiều cơ chế ưu đãi đã được đưa vào luật như: miễn tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với hoạt động cấp nước sinh hoạt ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng khó khăn; miễn đăng ký, miễn cấp phép khai thác nước trong trường hợp khẩn cấp như hạn hán, xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước hoặc dịch bệnh.
Những quy định này không chỉ thể hiện tính nhân văn sâu sắc mà còn cho thấy tư duy đổi mới mạnh mẽ trong quản lý nhà nước về tài nguyên nước: linh hoạt, chủ động, phục vụ Nhân dân và thích ứng với các tình huống cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra.
Có thể khẳng định, Luật Tài nguyên nước năm 2023 là minh chứng rõ nét cho năng lực lãnh đạo, hoạch định chính sách của Đảng; đồng thời phản bác hiệu quả các luận điệu xuyên tạc cho rằng Đảng và Nhà nước “không quan tâm đến đời sống người dân vùng khó khăn”, “phát triển không công bằng” hay “xem nhẹ môi trường và tài nguyên”.

Những kết quả thực tiễn khẳng định tính đúng đắn của chủ trương, đường lối của Đảng
Giai đoạn 2016 - 2021, Bộ Tài nguyên và Môi trường trước đây (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã triển khai 3 dự án lớn điều tra, tìm kiếm nguồn nước tại khu vực miền núi, vùng khan hiếm nước và 14 đảo có dân cư sinh sống.
Kết quả đạt được rất đáng ghi nhận: diện tích được điều tra lên tới khoảng 122,8 nghìn km², chiếm khoảng 37% diện tích tự nhiên của cả nước; tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất tại khoảng 300 vùng khan hiếm nước gồm 286 xã và 14 đảo.
Tổng trữ lượng nguồn nước được đánh giá đạt khoảng 850 nghìn m³/ngày đêm; xác định gần 800 công trình có khả năng đưa vào khai thác. Đặc biệt, có 277 công trình đủ điều kiện xây dựng trạm cấp nước tập trung, có khả năng cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 1,44 triệu người dân.
Những con số đó không đơn thuần là thành quả kỹ thuật hay chuyên môn. Đằng sau mỗi công trình nước là cuộc sống của hàng nghìn hộ dân được cải thiện; là trẻ em vùng cao có nước sạch để sử dụng; là người dân vùng hạn mặn không còn phải đi hàng chục cây số tìm nước; là những hòn đảo tiền tiêu có thêm điều kiện ổn định dân cư, phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, an ninh.
Tại các đảo như Quan Lạn, Thắng Lợi, đảo Trần hay Bạch Long Vĩ, việc tìm kiếm thành công nguồn nước dưới đất đã mở ra điều kiện phát triển bền vững cho người dân địa phương. Riêng tại đảo Bạch Long Vĩ, việc xác định được tiềm năng nước dưới đất khoảng 1.285 m³/ngày là kết quả có ý nghĩa chiến lược cả về dân sinh và quốc phòng.
Đối với khu vực miền núi phía Bắc, dự án điều tra nguồn nước ngầm trên phạm vi 15 tỉnh đã xác định trữ lượng động tự nhiên khoảng 30,5 triệu m³/ngày đêm; tiềm năng khai thác khoảng 11,5 triệu m³/ngày đêm. Đây là cơ sở khoa học đặc biệt quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển bền vững cho toàn vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.
Không chỉ dừng ở điều tra, nhiều công trình cấp nước tập trung đã được xây dựng và bàn giao cho địa phương quản lý, vận hành. Đã có 25 điểm cấp nước tập trung được triển khai với tổng công suất khoảng 4.800 m³/ngày, phục vụ gần 78 nghìn người dân.
Những kết quả đó cho thấy chủ trương bảo đảm an ninh nguồn nước của Đảng không phải là khẩu hiệu mà đã được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể, bằng những công trình thiết thực phục vụ Nhân dân.
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong bảo vệ quyền tiếp cận nước của người dân
Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với nhiều cuộc khủng hoảng nước, nhiều quốc gia xuất hiện nguy cơ “bất bình đẳng nước”, việc Việt Nam kiên trì theo đuổi mục tiêu bảo đảm quyền tiếp cận nước công bằng cho mọi người dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Đó là sự lựa chọn đúng đắn của một Đảng cầm quyền luôn đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết.
Những chính sách ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo không chỉ mang ý nghĩa an sinh xã hội mà còn có giá trị chiến lược trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của Nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Ở những nơi còn nhiều khó khăn, một công trình cấp nước không chỉ mang lại nguồn nước sạch mà còn mở ra cơ hội phát triển sinh kế, cải thiện sức khỏe cộng đồng, nâng cao chất lượng giáo dục và thúc đẩy bình đẳng xã hội.
Thực tiễn cũng cho thấy, khi người dân được tiếp cận đầy đủ thông tin, được tham gia giám sát, được hưởng lợi trực tiếp từ các chính sách của Đảng và Nhà nước, niềm tin xã hội được củng cố mạnh mẽ. Đây chính là “lá chắn mềm” quan trọng để đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động, chia rẽ của các thế lực thù địch.
Một số đối tượng thường lợi dụng những khó khăn cục bộ về thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước hoặc thiên tai để bóp méo bản chất vấn đề, quy kết trách nhiệm cho chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Đảng và Nhà nước luôn chủ động nhận diện thách thức, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực và triển khai đồng bộ các giải pháp để bảo đảm quyền tiếp cận nước cho người dân.
Chính những kết quả cụ thể trong điều tra, tìm kiếm nguồn nước, đầu tư công trình cấp nước và hoàn thiện chính sách pháp luật là minh chứng thuyết phục nhất để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đổi mới phương thức quản trị nguồn nước trong thời đại chuyển đổi số
Một trong những điểm nhấn quan trọng trong Kết luận số 36-KL/TW là yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, điều tiết và bảo đảm an ninh nguồn nước.
Điều này cho thấy tư duy phát triển của Đảng không chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt mà còn hướng tới xây dựng nền quản trị hiện đại, thông minh và bền vững.
Theo đó, nhiều nhiệm vụ trọng tâm đã được đặt ra như: xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước; tăng cường quan trắc, giám sát theo thời gian thực; xây dựng các kịch bản nguồn nước hằng năm; hiện đại hóa công tác dự báo, cảnh báo thiên tai liên quan đến nước; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các ngành, địa phương.
Việc ban hành Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Hồng - Thái Bình; xây dựng kịch bản nguồn nước hằng năm… đã cho thấy bước chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị tổng hợp, liên ngành và dựa trên dữ liệu.
Đặc biệt, việc thành lập Ủy ban lưu vực sông các khu vực: Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ là bước tiến quan trọng trong xây dựng cơ chế điều phối liên vùng, liên ngành, phù hợp với xu thế quản trị tài nguyên nước hiện đại của thế giới.
Đây cũng là nội dung gắn chặt với yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số. Khi các chủ trương của Đảng được cụ thể hóa bằng dữ liệu minh bạch, chính sách hiệu quả, công trình thực tiễn và thành quả phát triển cụ thể, thì niềm tin xã hội sẽ được củng cố vững chắc hơn bất kỳ hình thức tuyên truyền đơn thuần nào.

Bảo đảm an ninh nguồn nước - Trách nhiệm của toàn xã hội
An ninh nguồn nước là vấn đề tổng hợp, liên ngành và mang tính toàn cầu. Vì vậy, bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước mà cần sự tham gia của toàn xã hội.
Kết luận số 36-KL/TW đã nhấn mạnh yêu cầu nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về tầm quan trọng của bảo đảm an ninh nguồn nước; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động Nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
Báo chí, truyền thông cần tiếp tục lan tỏa những mô hình hay, cách làm hiệu quả; phản ánh kịp thời những bất cập trong quản lý, sử dụng nước; đồng thời đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc liên quan đến chính sách tài nguyên nước và bảo vệ môi trường.
Mỗi người dân cũng cần nâng cao ý thức sử dụng nước tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước, không xả thải gây ô nhiễm; tích cực tham gia giám sát cộng đồng và chung tay xây dựng văn hóa sử dụng nước bền vững.

Khẳng định bản lĩnh và tầm nhìn của Đảng trong kỷ nguyên mới
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ thể hiện ở việc kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn phải được khẳng định bằng hiệu quả lãnh đạo thực tiễn, bằng năng lực kiến tạo phát triển và chăm lo đời sống Nhân dân.
Trong lĩnh vực tài nguyên nước, những chủ trương lớn của Đảng, sự hoàn thiện đồng bộ của hệ thống pháp luật, những kết quả cụ thể trong điều tra, tìm kiếm nguồn nước và bảo đảm quyền tiếp cận nước cho người dân đã chứng minh rõ bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đó là mô hình phát triển đặt con người làm trung tâm; phát triển hài hòa giữa kinh tế với môi trường; giữa tăng trưởng với công bằng xã hội; giữa phát triển với bảo đảm quốc phòng, an ninh.
An ninh nguồn nước hôm nay không chỉ là câu chuyện của tài nguyên, mà còn là câu chuyện của lòng dân, của niềm tin xã hội và của khát vọng phát triển bền vững đất nước.
Bảo đảm để mọi người dân đều được tiếp cận nước sạch, an toàn, công bằng chính là hiện thực hóa sâu sắc nhất mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
hanoimoi.vn