Trung tâm cảnh báo và dự báo tài nguyên nước (Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Quốc gia) vừa xuất bản Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất tháng 04 năm 2026. Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước dưới đất tỉnh Ninh Bình được biên soạn hàng tháng nhằm cung cấp các thông tin về mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ các mục đích quản lý, khai thác tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy định của pháp luật.
Tỉnh Ninh Bình là một tỉnh thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình có diện tích tự nhiên là 3.942,6km2. Nguồn nước dưới đất tỉnh Ninh Bình phân bố chủ yếu trong các tầng chứa nước gồm: tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp), tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n) và tầng chứa nước karst trong trầm tích Trias giữa (t2). Tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước qh là 910.794m3/ngày, tầng chứa nước qp là 2.126.324m3/ngày, tầng chứa nước t2 là 945.019m3/ngày.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen (qh)
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen trên (qh2), trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 so với tháng 2 có xu thế không rõ ràng. Giá trị dâng cao nhất là 0,2m tại phường Duy Tiên (Q.89) và giá trị hạ thấp nhất là 0,19m tại phường Duy Tiên (Q.88).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,36m tại xã Hải Quang (Q.110) và sâu nhất là -5,07m tại phường Duy Tiên (Q.89). Trong tháng 4 và tháng 5 dự báo mực nước có xu thế dâng, mực nước chủ yếu dao động 0,1-0,3m, khu vực các xã Hải Tiến, Hải Quang mực nước có xu thế hạ.
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocen dưới (qh1), trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 so với tháng 2 có xu thế dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,23m tại phường Duy Tiên (Q.88a) và giá trị dâng cao là 0,29m tại phường Hà Nam (Q.85a).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -1,85m tại phường Hà Nam (Q.85a) và sâu nhất là -11,02m tại xã Đồng Thịnh (Q.108aM1). Trong tháng 4 và tháng 5 dự báo mực nước có xu thế dâng là chính, mực nước dao động 0,1-0,4m, khu vực các xã Lý Nhân, Đồng Thịnh mực nước có xu thế hạ.
Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen (qp)
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen trên (qp2), theo kết quả quan trắc tại công trình Q.82M1 thuộc phường Phù Vân, mực nước trung bình tháng 3 dâng hạ không đáng kể so với tháng 2. Trong tháng 4 và tháng 5 dự báo mực nước tại công trình Q.82M1 có xu thế dâng , mực nước dao động 0,1-0,2m.
Lớp chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen dưới (qp1), trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 3 so với tháng 2 có xu thế dâng hạ không đáng kể. Giá trị hạ thấp nhất là 0,07m tại phường Phủ Lý (Q.84b) và giá trị dâng cao nhất là 0,24m tại xã Ninh Cường (Q.109a).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,09m tại phường Phù Vân (Q.82a) và sâu nhất là -18,58m tại xã Ninh Cường (Q.109a). Trong tháng 4 và tháng 5 dự báo mực nước có xu thế hạ, mực nước dao động 0,1-0,4m.
Tầng chứa nước khe nứt trong các đá trầm tích lục nguyên Neogen (n)
Theo kết quả quan trắc tại công trình Q.109b thuộc xã Ninh Cường, mực nước trung bình tháng 3 dâng 0,07m so với tháng 2. Trong tháng 4 và tháng 5 dự báo mực nước tại công trình Q.109b có xu thế hạ, mực nước dao động 0,1-0,2m.
Tầng chứa nước karst trong trầm tích Trias giữa (t2)
Theo kết quả quan trắc tại công trình Q.92aM1 thuộc xã Chuyên Mỹ, mực nước trung bình tháng 3 dâng 0,09m so với tháng 2. Trong tháng 4 và tháng 5 dự báo mực nước tại công trình Q.92aM1 có xu thế hạ, mực nước dao động 0,1-0,3m.
Dự báo mực nước dưới đất tháng 4 và tháng 5 so với mực nước quan trắc tháng 3 có xu thế dâng tại lớp chứa nước qh2, qh1; có xu thế hạ tại lớp chứa nước qp2, qp1, và tầng chứa nước n, t2.
Đa số các thông số chất lượng nước trong tỉnh nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 09:2023/BTNMT. Tuy nhiên một số công trình có thông số vượt GTGH tập trung ở các tầng chứa nước Holocen (qh), Pleistocen (qp).
DWRM