Chủ động kiểm soát xâm nhập mặn, bảo đảm an ninh nguồn nước Đồng bằng sông Cửu Long mùa cạn 2025–2026

08:36 24/04/2026

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 4815/QĐ-BNNMT ngày 14/11/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về công bố Kịch bản nguồn nước (KBNN) trên lưu vực sông Cửu Long mùa cạn năm 2025 - 2026, mới đây, Cục Quản lý tài nguyên nước đã có báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường về hiện trạng nguồn nước, đánh giá trạng thái nguồn nước và tình hình thực hiện Kịch bản nguồn nước đã công bố đến ngày 31/3/2026.

Kết quả theo dõi cho thấy, nguồn nước trên lưu vực sông Cửu Long trong tháng 02 và tháng 3/2026 duy trì ở “Trạng thái bình thường”, cơ bản phù hợp với KBNN đã công bố.


Nguồn nước duy trì “Trạng thái bình thường”, phù hợp với kịch bản đã công bố


Theo tổng hợp từ công tác giám sát nguồn nước, khai thác sử dụng nước tại địa phương và kết quả phân tích khí tượng thủy văn trong tháng 2 và 3/2026, các yếu tố chính như lượng mưa, dòng chảy, mực nước dưới đất và xâm nhập mặn trên lưu vực sông Cửu Long đều diễn biến cơ bản phù hợp với KBNN đã công bố.


Trong tháng 2/2026, khu vực Nam Bộ ghi nhận một số đợt mưa trái mùa, trong đó đợt mưa cuối tháng (từ ngày 26 - 28/2) có cường độ khá lớn, nhiều nơi xuất hiện mưa vừa đến mưa to, thậm chí mưa rất to, với lượng mưa ngày vượt giá trị lịch sử cùng kỳ tại một số địa phương như Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau. Tổng lượng mưa tháng phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 10 - 50 mm, có nơi cao hơn từ 60 -100 mm.


Sang tháng 3/2026, khu vực tiếp tục xuất hiện mưa trái mùa trong những ngày đầu tháng, tuy nhiên tổng lượng mưa toàn vùng lại thấp hơn trung bình nhiều năm từ 10 - 40 mm. Nhìn chung, diễn biến lượng mưa phù hợp với xu thế dự báo trong KBNN, góp phần bổ sung nguồn nước mặt, làm giảm áp lực hạn hán và xâm nhập mặn trong giai đoạn đầu mùa khô.

 

Dòng chảy dồi dào, nguồn nước từ thượng nguồn cải thiện


Một trong những tín hiệu tích cực trong mùa cạn năm nay là dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Công về đồng bằng duy trì ở mức cao hơn trung bình nhiều năm.


Trong tháng 2/2026, tổng lượng dòng chảy tại trạm Kratie đạt khoảng 10,2 tỷ m³, xấp xỉ trung bình nhiều năm; trong khi đó, tại các trạm Tân Châu (sông Tiền) và Châu Đốc (sông Hậu), dòng chảy lần lượt cao hơn trung bình nhiều năm khoảng 31,6% và 8%. Dung tích Biển Hồ (Tonle Sap) cũng đạt mức cao hơn đáng kể so với trung bình và cùng kỳ năm trước.


Đến tháng 3/2026, xu thế dòng chảy tiếp tục cải thiện rõ rệt. Lưu lượng nước tại trạm Kratie tăng lên 12,5 tỷ m³, cao hơn trung bình nhiều năm tới 37,6%; dòng chảy trên sông Tiền và sông Hậu tiếp tục duy trì mức cao, lần lượt vượt trung bình nhiều năm khoảng 40,3% và 30,7%.


Nguồn nước từ Biển Hồ về hạ lưu cũng cao hơn dự báo, góp phần quan trọng bổ sung dòng chảy cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt trong giai đoạn triều cường và xâm nhập mặn gia tăng.


Nhìn chung, lượng dòng chảy trong tháng 02,3/2026 phổ biến cao hơn so với TBNN cùng thời kỳ và có xu hướng tốt hơn so với KBNN đã công bố.


Nước dưới đất ổn định nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro cục bộ


Song song với nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất trên lưu vực sông Cửu Long tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cấp nước sinh hoạt và sản xuất, đặc biệt tại các khu vực ven biển và vùng sâu, vùng xa.


Kết quả quan trắc cho thấy, trong tháng 2 và 3/2026, mực nước trong các tầng chứa nước Pleistocen và Pliocen dao động trong phạm vi ổn định, cơ bản tương đương cùng kỳ các năm trước. Tuy nhiên, tại một số khu vực, đặc biệt là vùng ven biển và khu vực đô thị, vẫn tồn tại hiện tượng hạ thấp mực nước cục bộ.
Tại các tỉnh ven biển từ Vĩnh Long đến Cà Mau, mực nước dưới đất tiếp tục có xu hướng giảm sâu tại một số điểm, trong đó có những khu vực ghi nhận mực nước động tiệm cận ngưỡng giới hạn khai thác cho phép. Tương tự, tại khu vực trung tâm như thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, một số công trình khai thác quy mô lớn cũng ghi nhận mực nước động ở mức cao, cần theo dõi sát.


Dù vậy, nhìn chung nguồn nước dưới đất vẫn đảm bảo khả năng khai thác phục vụ nhu cầu hiện tại. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường giám sát, kiểm soát khai thác nhằm hạn chế nguy cơ suy giảm nguồn nước và các tác động tiêu cực như sụt lún đất.


Xâm nhập mặn diễn biến theo quy luật, đã qua đỉnh mùa khô năm 2025-2026


Xâm nhập mặn tiếp tục là vấn đề trọng tâm trong quản lý tài nguyên nước tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trong mùa khô năm 2025-2026, diễn biến mặn được đánh giá là phù hợp với quy luật và sát với các nhận định trong KBNN.


Trong các đợt triều cường giữa tháng 2 và tháng 3, ranh mặn 4g/l trên các cửa sông chính đã xâm nhập sâu từ 40–50 km, thấp hơn trung bình nhiều năm từ 2–4 km và thấp hơn năm 2025 từ 5–13 km. Tại một số địa phương như Vĩnh Long, An Giang, xâm nhập mặn có thời điểm tăng cao nhưng sau đó giảm dần.


Trên hệ thống sông Vàm Cỏ và các cửa sông lớn, độ mặn cũng xâm nhập sâu trong các đợt triều cường, song chưa vượt ngưỡng cảnh báo nguy hiểm. Đáng chú ý, nhờ hệ thống công trình thủy lợi ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là các công trình kiểm soát mặn, đến nay chưa ghi nhận thiệt hại đáng kể do hạn mặn gây ra.


Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, đỉnh xâm nhập mặn của mùa khô năm nay đã qua. Từ nay đến cuối mùa, độ mặn có xu hướng giảm dần, với ranh mặn 4g/l lùi về khoảng 25–35 km tính từ cửa sông.


Chủ động ứng phó, hạn chế tối đa nguy cơ thiếu nước


Trên cơ sở các cảnh báo từ KBNN, các địa phương đã chủ động triển khai nhiều giải pháp ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn, như điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, tích trữ nước ngọt, vận hành công trình thủy lợi hợp lý.


Nhờ đó, mặc dù có nguy cơ thiếu nước cục bộ tại một số khu vực cuối nguồn, đặc biệt ở các tỉnh như Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cà Mau, nhưng đến thời điểm hiện tại, chưa ghi nhận tình trạng thiếu nước nghiêm trọng trên diện rộng.


Việc chủ động triển khai các giải pháp từ sớm, từ xa đã góp phần quan trọng bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và duy trì ổn định sản xuất nông nghiệp trong vùng.


Cảnh báo xu thế El Nino và yêu cầu nâng cao năng lực thích ứng


Mặc dù hiện trạng nguồn nước đang ở mức thuận lợi, song các cơ quan chuyên môn cảnh báo nguy cơ biến động trong thời gian tới do tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là hiện tượng ENSO.


Dự báo trong ngắn hạn, ENSO tiếp tục duy trì trạng thái La Nina hoặc trung tính. Tuy nhiên, từ giữa năm 2026, khả năng chuyển sang El Nino là rất cao (80-90%), thậm chí có thể đạt cường độ mạnh vào cuối năm và kéo dài sang năm 2027.


Về dự báo tổng lượng mưa, lưu vực sông Mê Công trong tháng 5/2026 phổ biến thấp hơn so với TBNN từ 5-10%. Tháng 6/2026, tại khu vực thượng lưu phổ biến xấp xỉ so với TBNN, khu vực trung lưu và hạ lưu phổ biến cao hơn từ 5-20% so với TBNN cùng thời kỳ.


Dự báo tổng lượng dòng chảy sông Mê Công (tại trạm Kratie) đến tháng 5/2026 cao hơn TBNN từ 5-15%; tổng lượng dòng chảy từ Biển Hồ về hạ lưu sông Mê Công trong thời gian đến tháng 5/2026 cao hơn TBNN khoảng từ 20-21%; từ tháng 01/2026 đến tháng 5/2026, dòng chảy sông Tiền (tại trạm Tân Châu) cao hơn TBNN từ 5-20%, dòng chảy sông Hậu (tại trạm Châu Đốc) cao hơn TBNN từ 3-10%.


Tăng tốc triển khai Kịch bản nguồn nước và hiện đại hóa quản lý


Về tình hình triển khai KBNN, đến nay đã có một số địa phương như Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau ban hành kế hoạch khai thác, sử dụng nước theo kịch bản. Tuy nhiên, nhiều địa phương khác vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, cần được đôn đốc để đảm bảo triển khai đồng bộ trên toàn lưu vực.


Để nâng cao hiệu quả quản lý, Cục Quản lý tài nguyên nước kiến nghị tiếp tục theo dõi sát diễn biến nguồn nước, tăng cường cập nhật KBNN trong trường hợp có biến động bất thường, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong điều hành, giám sát tài nguyên nước.


Đặc biệt, cần ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống thông tin, mô hình số phục vụ điều hòa, phân bổ nguồn nước theo thời gian thực – một công cụ quan trọng trong bối cảnh nguồn nước ngày càng biến động và chịu tác động đa chiều.


Có thể khẳng định, trong mùa cạn năm 2025-2026, nguồn nước trên lưu vực sông Cửu Long đang được kiểm soát hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, những thách thức từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là nguy cơ El Nino, vẫn hiện hữu.


Trong bối cảnh đó, việc triển khai hiệu quả Kịch bản nguồn nước, kết hợp với các giải pháp điều hành linh hoạt, tăng cường giám sát và đầu tư hạ tầng sẽ là yếu tố then chốt để bảo đảm an ninh nguồn nước, góp phần phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới.

DWRM