Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 242/QĐ-BNNMT ngày 20/01/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về công bố Kịch bản nguồn nước (KBNN) mùa cạn năm 2026 trên lưu vực sông Sê San, Cục Quản lý tài nguyên nước vừa có báo cáo đánh giá toàn diện về hiện trạng, diễn biến nguồn nước, mức độ phù hợp của kịch bản đã công bố cũng như tình hình triển khai thực hiện tại các địa phương tính đến ngày 31/3/2026.
Báo cáo cho thấy, trong những tháng đầu mùa cạn, nguồn nước trên lưu vực cơ bản duy trì ở trạng thái ổn định, phù hợp với nhận định trong KBNN; đồng thời, công tác điều hành, giám sát và phối hợp triển khai giữa các cơ quan trung ương và địa phương tiếp tục được tăng cường, góp phần bảo đảm nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất, sinh hoạt và phát điện.
Nguồn nước duy trì trạng thái ổn định, cơ bản phù hợp kịch bản đã công bố
Theo kết quả theo dõi, giám sát diễn biến nguồn nước trên toàn lưu vực, kết hợp với số liệu khí tượng thủy văn tháng 2 và tháng 3/2026, các nhận định trong KBNN về lượng mưa, dòng chảy, trữ lượng nước trong hồ chứa và mực nước dưới đất cơ bản phù hợp với thực tế.
Trong đó, tổng lượng mưa trên phạm vi cả nước trong tháng 2 và tháng 3/2026 phổ biến ở mức xấp xỉ đến thấp hơn trung bình nhiều năm từ 10–50 mm (tháng 2) và 10–40 mm (tháng 3). Diễn biến này nằm trong ngưỡng dự báo đã được đưa ra trong KBNN, không gây ra biến động bất thường đối với nguồn nước trên lưu vực.
Về dòng chảy, mực nước trên sông Krông Ana biến đổi chậm theo xu thế xuống dần, mực nước các sông khác dao động theo vận hành của hồ chứa thủy điện và các công trình thuỷ lợi. Mực nước trên các sông biến đổi theo xu thế lên dần từ nửa đầu tháng 5. Tổng lượng nước mặt trên sông Đăkbla (Quảng Ngãi) và sông Krông Ana (Đắk Lắk) ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm (TBNN) cùng kỳ khoảng 18-58%, trên các sông khác phổ biến ở mức xấp xỉ và cao hơn TBNN từ 11-48% , dòng chảy đến các hồ chứa lớn trên lưu vực phổ biến cao hơn so với TBNN cùng thời kỳ. Cụ thể, dòng chảy đến hồ Plei Krông cao hơn 38% so với TBNN, Hồ IaLy cao hơn so với TBNN là 24% và hồ Sê San 4 là 12%.
Nhìn chung, lượng dòng chảy tháng 02, 3/2026 có xu hướng tốt, về cơ bản bám sát với nhận định trong KBNN đã công bố.

Hồ chứa bảo đảm dung tích an toàn, đáp ứng nhu cầu khai thác
Đối với các hồ chứa lớn, đặc biệt là ba công trình quan trọng gồm Sê San 4, Plei Krông và IaLy, tổng dung tích trữ nước trong tháng 2 và tháng 3/2026 đều nằm trong vùng an toàn cấp nước theo nhận định của KBNN.
Cụ thể, tổng dung tích trữ của ba hồ tính đến cuối tháng 2/2026 đạt khoảng 2.638 triệu m³ và đến ngày 31/3/2026 đạt khoảng 2.387 triệu m³, xấp xỉ với mức dự báo trong kịch bản.
Đối với hệ thống hồ thủy lợi có dung tích từ 1 triệu m³ trở lên, tổng dung tích trữ đến cuối tháng 3/2026 đạt khoảng 50,4 triệu m³, tương đương 55% dung tích thiết kế. Theo báo cáo của các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi tại khu vực Tây Nguyên, các công trình hiện vẫn bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất theo kế hoạch.
Một số hồ có dung tích thấp chủ yếu là các hồ nhỏ, phục vụ tưới tại chỗ, chưa có hệ thống điều tiết hoàn chỉnh. Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng lớn đến tổng thể khả năng cung cấp nước trên toàn lưu vực.
Nguồn nước dưới đất ổn định, đáp ứng nhu cầu khai thác
Song song với nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất trên lưu vực sông Sê San cũng được duy trì ở trạng thái ổn định trong tháng 2 và tháng 3/2026.
Số liệu quan trắc cho thấy, mực nước trong các tầng chứa nước lỗ hổng dao động từ 1,21–10,65 m, trung bình khoảng 5,4 m, cơ bản tương đương cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, các tầng chứa nước bazan có mực nước dao động từ 0,99–22,55 m, trung bình 9,62 m, có xu hướng tăng nhẹ so với năm trước.
Diễn biến này cho thấy nguồn nước dưới đất vẫn duy trì khả năng cấp nước ổn định cho các công trình khai thác, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nước tăng cao trong mùa khô.
Chưa xuất hiện hạn hán, thiếu nước trên diện rộng
Một trong những nội dung quan trọng của KBNN là cảnh báo nguy cơ hạn hán, thiếu nước tại 6 vùng, tiểu vùng với 26 xã thuộc hai tỉnh Gia Lai và Quảng Ngãi.
Tuy nhiên, theo kết quả giám sát thực tế, từ đầu mùa cạn đến nay, trên toàn lưu vực chưa ghi nhận tình trạng hạn hán hoặc thiếu nước trên diện rộng. Nguồn nước tại các sông chính và hệ thống công trình thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt và sản xuất.
Điều này cho thấy việc xây dựng và triển khai KBNN đã phát huy hiệu quả trong việc hỗ trợ các địa phương chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cơ cấu cây trồng và phương án sử dụng nước, qua đó giảm thiểu rủi ro và thiệt hại.
Dự báo xu thế nguồn nước: Tiếp tục ổn định nhưng tiềm ẩn rủi ro dài hạn
Căn cứ các dự báo khí tượng thủy văn trong thời gian tới, hệ thống ENSO hiện đang ở trạng thái trung tính, với khả năng chuyển sang El Nino từ tháng 6–8/2026 với xác suất 80–90%.
Trên cơ sở đó, nguồn nước trên lưu vực sông Sê San trong các tháng tiếp theo của mùa cạn năm 2026 được dự báo tiếp tục duy trì ở “Trạng thái bình thường”, ít có khả năng xảy ra hạn hán trên diện rộng.
Tuy nhiên, về dài hạn, nếu El Nino phát triển với cường độ trung bình đến mạnh, thậm chí rất mạnh vào cuối năm 2026, nguy cơ thiếu nước có thể gia tăng, đặc biệt tại các khu vực xa nguồn nước hoặc hệ thống công trình chưa hoàn thiện.
Về diễn biến cụ thể, lượng mưa tại khu vực Tây Nguyên dự kiến tăng dần từ tháng 4, đạt khoảng 80–150 mm trong tháng 4 và tăng lên 200–300 mm vào tháng 6. Dòng chảy trên các sông sẽ tiếp tục phụ thuộc vào chế độ vận hành của các hồ thủy điện và thủy lợi.
Trong bối cảnh nhu cầu phát điện tăng cao, việc điều tiết nước từ các hồ chứa sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm dòng chảy tối thiểu, đặc biệt là duy trì lưu lượng không nhỏ hơn 195 m³/s sau đập Sê San 4 theo quy định.
Về tình hình triển khai KBNN tại địa phương, đến nay cả hai tỉnh Gia Lai và Quảng Ngãi đã đăng tải kịch bản trên cổng thông tin điện tử, góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin.
Chủ động điều hành, bảo đảm sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước
Trước những diễn biến tiềm ẩn của khí hậu và nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, Cục Quản lý tài nguyên nước đã kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều hành nguồn nước trên lưu vực.
Trong đó, nhấn mạnh việc tăng cường giám sát vận hành linh hoạt các hồ chứa, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm nắng nóng; chủ động điều chỉnh chế độ vận hành khi có nguy cơ ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng nước hạ du.
Đồng thời, cần tiếp tục theo dõi sát diễn biến khí tượng thủy văn, cập nhật kịp thời KBNN trong trường hợp có biến động bất thường; đẩy nhanh triển khai các nhiệm vụ xây dựng hệ thống thông tin, mô hình số hỗ trợ ra quyết định điều hòa, phân bổ nguồn nước.
Bên cạnh đó, việc hoàn thiện các cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và đơn vị vận hành công trình cũng được xác định là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên nước.
Kết quả đánh giá đến hết tháng 3/2026 cho thấy, nguồn nước trên lưu vực sông Sê San đang được quản lý, điều hành hiệu quả, bám sát kịch bản đã công bố, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp và nguy cơ El Nino gia tăng, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, chủ động điều hành, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài nguyên nước.
Việc triển khai hiệu quả KBNN không chỉ góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước mà còn là cơ sở quan trọng để hướng tới một nền quản trị tài nguyên nước hiện đại, linh hoạt và bền vững trong dài hạn.
DWRM