Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) vừa có báo cáo đánh giá hiện trạng, diễn biến nguồn nước và tình hình triển khai Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Cửu Long mùa cạn năm 2025–2026. Kết quả cho thấy, đến hết tháng 01/2026, nội dung nhận định về xu thế diễn biến lượng mưa, dòng chảy, mực nước trong các tầng chứa nước, diễn biến xâm nhập mặn được công bố trong Kịch bản nguồn nước (KBNN) cơ bản phù hợp với tình hình thực tế. Nguồn nước trên lưu vực sông Cửu Long trong những tháng đầu mùa cạn năm 2025-2026 duy trì ở “Trạng thái bình thường”, cơ bản phù hợp với KBNN đã công bố.
Nguồn nước ổn định, dòng chảy cao hơn trung bình nhiều năm
Theo đánh giá, trong tháng 01/2026, cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hầu như không có mưa. Trong thời gian từ 06-07/01 có 01 đợt mưa trái mùa tại miền Tây Nam Bộ với lượng mưa rất nhỏ. TLM tháng 01 phổ biến xấp xỉ so với TBNN. Như vậy, diễn biến lượng mưa cơ bản phù hợp với dự báo xu thế diễn biến lượng mưa trong KBNN đã công bố.
Trong tháng 01/2026, dòng chảy các sông trên lưu vực phổ biến cao hơn so với TBNN cùng thời kỳ. Cụ thể, dòng chảy sông Mê Công (tại trạm Kratie) đạt 14,02 tỷ m3 cao hơn TBNN khoảng 18,6%, dòng chảy sông Tiền (tại trạm Tân Châu) đạt 25,08 tỷ m3 cao hơn TBNN khoảng 50,6%, dòng chảy trên sông Hậu (tại trạm Châu Đốc) đạt 3,19 tỷ m3 cao hơn TBNN khoảng 18,7%. Dung tích hồ ngày 31/01/2026 khoảng 10,02 tỷ m3 (cao hơn khoảng 5% so với dự báo cùng thời điểm) tiếp tục chảy ra đóng góp vào dòng chính sông Mê Công. Nhìn chung, lượng dòng chảy trong tháng 01/2026 có xu hướng tốt hơn so với KBNN đã công bố.

Nguồn nước dưới đất trên toàn lưu vực tiếp tục duy trì ổn định, cơ bản phù hợp với KBNN đã công bố, đảm bảo cho việc tiếp tục duy trì việc khai thác nước dưới đất như hiện tại trong thời gian tới.
Tại các công trình khai thác, nguồn nước dưới đất trong tháng 01/2026 cơ bản ổn định, đảm bảo khả năng cấp nước cho các công trình khai thác nước dưới đất trên toàn lưu vực sông. Mực nước khai thác lớn nhất tại các công trình khai thác quy mô vừa và lớn cơ bản phù hợp với dự báo theo kịch bản nguồn nước và đều nhỏ hơn ngưỡng mực nước giới hạn (35m). Cụ thể: Một số khu vực ven biển các tỉnh từ Vĩnh Long đến Cà Mau: mực nước động lớn nhất tiếp tục duy trì tại một số công trình khai thác nước dưới đất như trạm cấp nước phường 1,2,5,6,7,9 (33,85m), trạm cấp nước phường 8 (31,14m), nhà máy nước số 1 (31,96m), nhà máy nước số 2 (31,5m), nhà máy nước Bạc Liêu (33,85m). Trong thời gian tới các công trình này có thể đảm bảo khai thác với lưu lượng khai thác như hiện tại nhưng cần phải theo dõi, giám sát chặt chẽ.
Các công trình còn lại, phân bố mực nước động (MNĐ) lớn nhất (tại các giếng khai thác) dự báo trong khoảng từ 27,3 - 29,55m (nhỏ hơn MNĐ cho phép), có thể đảm bảo duy trì công suất khai thác như hiện tại.
Tại một số khu vực thuộc thành phố Cần Thơ và các tỉnh Đồng Tháp, Tây Ninh mực nước động hạ thấp lớn nhất tại một số công trình khai thác nước dưới đất như công ty cổ phần thuỷ sản NTSF (31,09m), nhà máy nước Tân An (34,01m), giá trị mực nước động tiệm cận mực nước động lớn nhất cho phép (35m). Trong thời gian tới các công trình này tiếp tục có thể đảm bảo duy trì được tổng lưu lượng khai thác như hiện tại nhưng cần phải theo dõi, giám sát chặt chẽ.
Các công trình còn lại, phân bố MNĐ lớn nhất (tại các giếng khai thác) trong khoảng từ 23,84 - 28,65m (nhỏ hơn MNĐ cho phép), có thể đảm bảo duy trì công suất khai thác như hiện tại.
Xâm nhập mặn xuất hiện nhưng chưa gây thiệt hại
Diễn biến xâm nhập mặn trong tháng 01/2026 được ghi nhận ở mức tương đối phù hợp với dự báo. Ranh mặn 4g/l đã xuất hiện trên một số tuyến sông chính, xâm nhập sâu từ 16 đến trên 40 km tùy khu vực, đặc biệt tại các cửa sông lớn như Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu.
Tại một số địa phương như An Giang, Vĩnh Long và khu vực sông Cái Lớn, Cái Bé, mặn đã xâm nhập vào nội đồng theo chu kỳ triều, song chưa ghi nhận thiệt hại đáng kể. Nguồn nước đầu nguồn dồi dào đã góp phần hạn chế mức độ xâm nhập mặn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt.
Kịch bản nguồn nước đã xác định trước nguy cơ xâm nhập mặn và thiếu nước cục bộ tại một số khu vực cuối nguồn, đặc biệt ở các tỉnh như Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cà Mau. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của mặn kết hợp với hệ thống công trình thủy lợi và cấp nước chưa đồng bộ.
Dự báo duy trì trạng thái bình thường nhưng tiềm ẩn rủi ro
Trong các tháng tiếp theo của mùa cạn, nguồn nước trên lưu vực sông Cửu Long được dự báo tiếp tục duy trì trạng thái bình thường. Xác suất xuất hiện trạng thái La Nina ở mức 60–65% sẽ góp phần duy trì lượng dòng chảy từ thượng nguồn ở mức khá.
Dự báo đến tháng 5/2026, tổng lượng dòng chảy sông Mê Công (tại trạm Kratie) đến tháng 5/2026 có khả năng cao hơn so với TBNN, trong đó: từ tháng 11/2025 đến tháng 02/2026 có khả năng cao hơn TBNN từ 15-35%, từ tháng 3/2026 đến tháng 5/2026 cao hơn TBNN từ 5-15%; tổng lượng dòng chảy từ Biển Hồ về hạ lưu sông Mê Công trong thời gian đến tháng 5/2026 cao hơn TBNN khoảng từ 20 21%; từ tháng 01/2026 đến tháng 5/2026, dòng chảy sông Tiền (tại trạm Tân Châu) cao hơn TBNN từ 5-20%, dòng chảy sông Hậu (tại trạm Châu Đốc) cao hơn TBNN từ 3-10%.
Đẩy mạnh triển khai kịch bản, tăng cường giải pháp ứng phó
Đến nay, 100% các địa phương trên lưu vực đã đăng tải Kịch bản nguồn nước trên cổng thông tin điện tử, tạo điều kiện để các ngành, địa phương chủ động xây dựng phương án ứng phó. Các tỉnh, thành phố cũng đang khẩn trương hoàn thiện kế hoạch khai thác, sử dụng nước phù hợp với điều kiện thực tế.
Mặc dù, dự báo trạng thái nguồn nước trong thời gian tới về cơ bản phù hợp với KBNN được công bố, tuy nhiên xu thế dòng chảy trong các tháng mùa khô năm 2026 tiếp tục suy giảm, mặn sẽ xâm nhập mạnh hơn vào trong nội đồng. Bên cạnh đó, dự báo triều cường trong tháng 02/2026 ở mức khá cao, nguy cơ ngập tại khu vực thấp, trũng thuộc vùng ven biển ĐBSCL vẫn có khả năng xảy ra.
Để đảm bảo sự chủ động, sẵn sàng ứng phó với những điều kiện thời tiết bất thường có thể xảy ra gây thiếu nước ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sản xuất trên lưu vực, Cục Quản lý tài nguyên nước kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục chỉ đạo các đơn vị liên quan theo dõi chặt chẽ diễn biến nguồn nước, khí tượng thủy văn và xâm nhập mặn; chủ động vận hành các công trình thủy lợi, công trình ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất và dân sinh.
Bên cạnh đó, cần sớm phê duyệt các nhiệm vụ trọng tâm như cập nhật kịch bản nguồn nước, rà soát quy trình vận hành liên hồ chứa và xây dựng hệ thống thông tin, mô hình số phục vụ điều hòa, phân bổ tài nguyên nước theo thời gian thực.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp không chỉ giúp ứng phó hiệu quả với hạn hán, xâm nhập mặn mà còn góp phần nâng cao năng lực quản lý tài nguyên nước theo hướng hiện đại, bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.
DWRM